Biên bản thỏa thuận giữa hai gia đình được sử dụng trong nhiều trường hợp nhằm ghi nhận những nội dung đã thống nhất và hạn chế tranh chấp về sau. Tuy nhiên, không phải mọi thỏa thuận đều mặc nhiên có giá trị pháp lý. Vậy biên bản này cần đáp ứng điều kiện gì, khi nào cần công chứng, chứng thực và xử lý ra sao nếu một bên không thực hiện đúng cam kết?
Biên bản thỏa thuận giữa hai gia đình được sử dụng ngày càng phổ biến nhằm ghi nhận cụ thể những nội dung đã thống nhất, trách nhiệm của từng bên và cách thức thực hiện. Việc lập văn bản giúp hạn chế tranh chấp, tránh cách hiểu khác nhau và thuận tiện đối chiếu khi phát sinh vấn đề.

Bên cạnh đó, trong những thỏa thuận có liên quan đến tài sản, quyền lợi hoặc nghĩa vụ của các bên, văn bản còn giúp lưu lại căn cứ về ý chí và cam kết của người tham gia. Tuy nhiên, giá trị pháp lý của biên bản vẫn cần được xem xét dựa trên nội dung, chủ thể ký kết và quy định pháp luật có liên quan.
Để biên bản thỏa thuận giữa hai gia đình được lập và sử dụng phù hợp, cần làm rõ khái niệm, hoàn cảnh áp dụng và chủ thể tham gia ký kết. Những nội dung này giúp các bên xác định đúng phạm vi thỏa thuận và trách nhiệm của từng người.
Biên bản thỏa thuận giữa hai gia đình là văn bản ghi nhận những nội dung mà hai gia đình đã thống nhất trên cơ sở tự nguyện, nhằm xác định rõ quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của các bên liên quan. Tùy trường hợp, biên bản có thể được lập dưới nhiều hình thức và nội dung khác nhau, nhưng cần bảo đảm không vi phạm điều cấm của luật và phù hợp với quy định pháp luật có liên quan.
Biên bản thỏa thuận giữa hai gia đình có thể được lập trong nhiều trường hợp thực tế, chẳng hạn:
Tùy từng hoàn cảnh, nội dung biên bản thỏa thuận giữa hai gia đình cần được xác định cụ thể để phản ánh đúng ý chí và trách nhiệm của các bên.
Tùy vào nội dung và mục đích của biên bản thỏa thuận giữa hai gia đình, người tham gia ký kết có thể gồm:

Việc lựa chọn đúng chủ thể ký kết giúp xác định rõ phạm vi quyền, nghĩa vụ và giá trị của biên bản đối với những người liên quan.
Pháp luật không quy định một mẫu chung cho biên bản thỏa thuận giữa hai gia đình. Tuy nhiên, để thỏa thuận có giá trị và được pháp luật bảo vệ, các bên cần lưu ý về chủ thể, nội dung, hình thức và điều kiện có hiệu lực của thỏa thuận.
Có, nội dung thỏa thuận giữa hai gia đình bị giới hạn bởi quy định pháp luật. Các bên được tự do thỏa thuận nhưng nội dung biên bản thỏa thuận giữa hai gia đình không được vi phạm điều cấm của luật, trái đạo đức xã hội hoặc xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của người khác. Đây là nguyên tắc được ghi nhận tại khoản 1 Điều 3 Bộ luật Dân sự 2015 về giới hạn thực hiện quyền dân sự và điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự.
Đồng thời, khoản 1 Điều 117 Bộ luật này quy định nội dung của giao dịch dân sự không được vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội.
Do đó, nội dung biên bản thỏa thuận giữa hai gia đình phải nằm trong phạm vi pháp luật cho phép; những thỏa thuận vi phạm điều cấm của luật hoặc trái đạo đức xã hội có thể không được pháp luật công nhận và bảo vệ.
Có thể, nếu biên bản thỏa thuận giữa hai gia đình đáp ứng các điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự theo Điều 117 Bộ luật Dân sự 2015, nội dung thỏa thuận có thể được sử dụng làm căn cứ để xác định quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của các bên khi phát sinh tranh chấp.
Tuy nhiên, giá trị của biên bản còn phụ thuộc vào nội dung, chủ thể ký kết và hình thức của thỏa thuận. Trường hợp pháp luật yêu cầu giao dịch phải được lập thành văn bản, công chứng, chứng thực hoặc đăng ký thì các bên phải tuân thủ yêu cầu đó theo khoản 2 Điều 119 Bộ luật Dân sự 2015.
Do pháp luật không quy định cụ thể một mẫu nội dung áp dụng chung cho biên bản thỏa thuận giữa hai gia đình, nội dung thỏa thuận cần được xây dựng dựa trên các nguyên tắc cơ bản của pháp luật, bao gồm:
Như vậy, việc hai bên ký kết biên bản chỉ là một yếu tố; để thỏa thuận được pháp luật công nhận, cần xem xét đồng thời cả điều kiện về chủ thể, nội dung và hình thức của thỏa thuận.
Trường hợp biên bản thỏa thuận giữa hai gia đình liên quan đến tài sản hoặc quyền lợi của các bên, cần lưu ý các quy định sau:

Do đó, khi thỏa thuận liên quan đến tài sản hoặc quyền lợi cụ thể, các bên cần xác định rõ tài sản, chủ thể có quyền và hình thức pháp lý cần thiết trước khi ký biên bản thỏa thuận giữa hai gia đình.
Trong thực tế, việc lập và ký biên bản thỏa thuận giữa hai gia đình có thể phát sinh nhiều vấn đề liên quan đến hình thức, công chứng, người ký và giá trị thực hiện. Dưới đây là một số câu hỏi thường gặp cần lưu ý.
Không, pháp luật hiện hành không quy định một mẫu cố định áp dụng chung cho biên bản thỏa thuận giữa hai gia đình. Các bên có thể tự thỏa thuận về nội dung và hình thức, miễn đáp ứng điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự theo Điều 117 Bộ luật Dân sự 2015 và tuân thủ yêu cầu về hình thức trong trường hợp pháp luật có quy định.
Theo đó, biên bản nên thể hiện rõ thông tin các bên, nội dung thỏa thuận, quyền và nghĩa vụ, trách nhiệm thực hiện và chữ ký của những người tham gia.
Không phải mọi biên bản thỏa thuận giữa hai gia đình đều bắt buộc phải công chứng, chứng thực. Theo khoản 2 Điều 119 Bộ luật Dân sự 2015, chỉ khi pháp luật quy định giao dịch phải được lập thành văn bản có công chứng, chứng thực hoặc đăng ký thì các bên mới phải tuân thủ yêu cầu này.
Đồng thời, Điều 3 Luật Công chứng 2024 xác định giao dịch phải công chứng là giao dịch được luật quy định hoặc luật giao Chính phủ quy định phải công chứng.
Chính vì vậy, nếu biên bản chỉ ghi nhận những nội dung thỏa thuận thông thường và pháp luật không yêu cầu công chứng, chứng thực thì các bên không bắt buộc phải thực hiện thủ tục này. Trường hợp thỏa thuận liên quan đến giao dịch có yêu cầu về hình thức, cần tuân thủ quy định pháp luật tương ứng.
Không phải trong mọi trường hợp. Việc người đại diện gia đình ký biên bản thỏa thuận giữa hai gia đình chỉ làm phát sinh quyền, nghĩa vụ đối với người được đại diện khi người đó có quyền đại diện hợp pháp và ký trong phạm vi đại diện. Theo Điều 134, Điều 135 và khoản 1 Điều 141 Bộ luật Dân sự 2015, quyền đại diện có thể được xác lập theo ủy quyền hoặc theo quy định của pháp luật, và người đại diện phải thực hiện giao dịch trong phạm vi đại diện.
Trường hợp một người tự nhận là đại diện nhưng không có quyền đại diện thì về nguyên tắc, giao dịch không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ đối với người được cho là đại diện, trừ các trường hợp được quy định tại Điều 142 Bộ luật Dân sự 2015.
Vậy nên, không thể mặc nhiên xem chữ ký của một thành viên là sự đồng ý hoặc cam kết của tất cả thành viên trong gia đình.
Có, nếu biên bản thỏa thuận giữa hai gia đình được xác lập hợp pháp, các bên có thể thỏa thuận sửa đổi, bổ sung nội dung đã ký. Theo Điều 421 Bộ luật Dân sự 2015, các bên có thể thỏa thuận sửa đổi hợp đồng; trường hợp việc sửa đổi phải tuân theo hình thức nhất định thì việc sửa đổi cũng phải bảo đảm hình thức đó.
Vì vậy, khi sửa đổi biên bản, các bên nên lập văn bản ghi nhận rõ nội dung thay đổi và có chữ ký của những chủ thể có liên quan. Nếu thỏa thuận ban đầu thuộc trường hợp phải công chứng, chứng thực hoặc đăng ký thì phần sửa đổi cũng cần tuân thủ yêu cầu pháp luật tương ứng.
Trường hợp một bên không thực hiện đúng biên bản thỏa thuận giữa hai gia đình, việc xử lý trước hết căn cứ vào nội dung cam kết và tính pháp lý của thỏa thuận. Theo Điều 351 Bộ luật Dân sự 2015, bên có nghĩa vụ mà vi phạm nghĩa vụ thì phải chịu trách nhiệm dân sự; nếu gây thiệt hại thì có thể phải bồi thường theo quy định pháp luật.
Các bên có thể ưu tiên thương lượng, yêu cầu bên vi phạm thực hiện đúng cam kết hoặc khắc phục hậu quả. Nếu không thể giải quyết bằng thỏa thuận và tranh chấp thuộc phạm vi được pháp luật bảo vệ, bên có quyền có thể yêu cầu Tòa án giải quyết để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình.
Tuy nhiên, không phải mọi nội dung ghi trong biên bản đều có thể dùng làm căn cứ yêu cầu thực hiện. Cơ quan có thẩm quyền sẽ xem xét hiệu lực của thỏa thuận, quyền và nghĩa vụ của từng bên cũng như tính hợp pháp của nội dung cam kết.
NPLaw cung cấp dịch vụ tư vấn và hỗ trợ xây dựng biên bản thỏa thuận giữa hai gia đình dựa trên nội dung, mục đích và quyền lợi cụ thể của từng bên. Đội ngũ chuyên môn hỗ trợ rà soát điều khoản, xác định quyền và nghĩa vụ, đồng thời lưu ý các yêu cầu về hình thức để hạn chế rủi ro pháp lý và bảo đảm thỏa thuận phù hợp với quy định pháp luật.
Trên đây là các thông tin mang tính tham khảo, Quý khách hàng cần tư vấn chi tiết về trường hợp cụ thể, vui lòng liên hệ cho Hãng luật NPLaw để được tư vấn ngay.
CÔNG TY LUẬT TNHH NGỌC PHÚ
Tổng đài tư vấn và CSKH: 0913419996
Hotline: 0913449968
Email: legal@nplaw.vn