Những điều cần biết về định giá tài sản hợp đồng li-xăng

Trong quá trình giao kết và thực hiện hợp đồng li-xăng, việc xác định giá trị của đối tượng sở hữu trí tuệ có ý nghĩa quan trọng đối với việc xây dựng mức phí li-xăng, phân bổ lợi ích và kiểm soát rủi ro. NPLaw cung cấp góc nhìn pháp lý về định giá tài sản hợp đồng li-xăng, giúp doanh nghiệp có cơ sở tham khảo khi đàm phán và xây dựng hợp đồng.

I. Vai trò của việc định giá tài sản hợp đồng li-xăng

Định giá tài sản hợp đồng li-xăng là vấn đề được quan tâm khi các bên cần xác định giá trị kinh tế của quyền sử dụng đối tượng sở hữu trí tuệ. Đặc biệt, đối với sáng chế, nhãn hiệu, quyền tác giả, bí mật kinh doanh hoặc các tài sản vô hình khác, giá trị thường không thể xác định đơn giản bằng chi phí hình thành tài sản. Theo điểm e khoản 1 Điều 144 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 (được hướng dẫn bởi Điều 61 Nghị định 65/2023/NĐ-CP), hợp đồng sử dụng đối tượng sở hữu công nghiệp phải có các nội dung chủ yếu, trong đó có giá chuyển giao quyền sử dụng. Như vậy, giá chuyển giao quyền sử dụng là một nội dung quan trọng của hợp đồng li-xăng đối với đối tượng sở hữu công nghiệp.

Trên thực tế, việc định giá có thể được sử dụng để hỗ trợ các bên xác định mức phí trả một lần, phí định kỳ hoặc tỷ lệ phí tính trên doanh thu, sản lượng. Giá trị của tài sản cũng có thể ảnh hưởng đến việc đánh giá hiệu quả thương mại của giao dịch, phân bổ rủi ro và xác định cơ sở đàm phán giữa bên chuyển quyền và bên được chuyển quyền.

Đối với những giao dịch có giá trị lớn, việc xác định giá trị tài sản vô hình còn có ý nghĩa trong hoạt động kế toán, thuế, đầu tư, chuyển nhượng quyền và giải quyết tranh chấp. Tuy nhiên, cần phân biệt giá trị tài sản với giá chuyển giao quyền sử dụng. Hai khái niệm này có liên quan nhưng không hoàn toàn đồng nhất; giá chuyển giao cuối cùng còn phụ thuộc vào phạm vi quyền được cấp, thời hạn, lãnh thổ, tính độc quyền và các điều kiện khác của hợp đồng.

Tóm lại, định giá tài sản hợp đồng li-xăng giúp các bên có cơ sở kinh tế và chuyên môn để đàm phán giá chuyển giao quyền sử dụng, nhưng giá trị thẩm định không đương nhiên đồng nghĩa với mức phí li-xăng mà các bên bắt buộc phải thỏa thuận.

II. Những vấn đề cần biết về định giá tài sản hợp đồng li-xăng

Để định giá đúng bản chất, trước hết cần xác định tài sản nào được định giá, quyền nào được chuyển giao và những yếu tố nào làm thay đổi giá trị kinh tế của quyền đó.

1. Định giá tài sản hợp đồng li-xăng được hiểu như thế nào?

Hiện nay, pháp luật không có một định nghĩa riêng về “định giá tài sản hợp đồng li-xăng”. Về bản chất, có thể hiểu đây là quá trình xác định hoặc ước tính giá trị kinh tế của tài sản vô hình, quyền sở hữu trí tuệ hoặc quyền sử dụng tài sản trí tuệ được đưa vào giao dịch li-xăng tại một thời điểm và cho một mục đích nhất định.

Cần phân biệt hoạt động định giá theo thỏa thuận thương mại của các bên với hoạt động thẩm định giá theo pháp luật về giá. Theo khoản 16 Điều 4 Luật Giá năm 2024, hoạt động tư vấn xác định giá trị của tài sản thẩm định giá tại một địa điểm, thời điểm, phục vụ cho mục đích nhất định do doanh nghiệp thẩm định giá, hội đồng thẩm định giá thực hiện theo Chuẩn mực thẩm định giá Việt Nam. 

Khoản 17 Điều 4 Luật Giá năm 2023 cũng xác định tài sản thẩm định giá có thể là tài sản được cơ quan, tổ chức, cá nhân yêu cầu thẩm định theo nhu cầu hoặc trường hợp pháp luật quy định phải thẩm định. Vì vậy, định giá tài sản hợp đồng li-xăng có thể được thực hiện thông qua thỏa thuận thương mại giữa các bên hoặc, khi cần một kết quả thẩm định độc lập, thông qua doanh nghiệp thẩm định giá đáp ứng điều kiện pháp luật.

2. Những tài sản sở hữu trí tuệ nào có thể được định giá trong hợp đồng li-xăng?

Đối tượng định giá trong hợp đồng li-xăng có thể là những tài sản hoặc quyền tài sản trí tuệ có khả năng được khai thác thương mại và được pháp luật cho phép chuyển giao quyền sử dụng. Đối với quyền sở hữu công nghiệp, hợp đồng sử dụng có thể liên quan đến các đối tượng như sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí, nhãn hiệu và các đối tượng khác trong phạm vi pháp luật cho phép. Căn cứ khoản 1 Điều 141 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005, chuyển quyền sử dụng đối tượng sở hữu công nghiệp là sự thỏa thuận giữa chủ sở hữu đối tượng sở hữu công nghiệp và tổ chức, cá nhân khác về việc cho phép tổ chức, cá nhân đó sử dụng đối tượng sở hữu công nghiệp thuộc phạm vi quyền sử dụng của mình. Theo khoản 1 Điều 142 Luật Sở hữu trí tuệ, trừ các đối tượng quy định là hạn chế chuyển quyền sở hữu thì các đối tượng như sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí, nhãn hiệu và bí mật kinh doanh, phù hợp với điều kiện luật định sẽ được chuyển giao. Riêng chỉ dẫn địa lý, tên thương mại không thuộc đối tượng được chuyển quyền sử dụng theo hợp đồng li-xăng thông thường. Luật Sở hữu trí tuệ quy định hợp đồng sử dụng đối tượng sở hữu công nghiệp phải xác định phạm vi chuyển giao, gồm giới hạn quyền sử dụng và lãnh thổ, thời hạn và giá chuyển giao quyền sử dụng tại Điều 144 Luật Sở hữu trí tuệ 2005.

Ngoài ra, trong giao dịch thương mại, giá trị kinh tế còn có thể gắn với quyền tác giả, quyền liên quan, bí mật kinh doanh, phần mềm hoặc các tài sản vô hình khác nếu đáp ứng điều kiện pháp luật và được đưa vào phạm vi giao dịch phù hợp. Tuy nhiên, không phải mọi quyền sở hữu trí tuệ đều có thể được li-xăng theo cùng một cơ chế. Các bên phải xác định chính xác đối tượng, tình trạng bảo hộ, chủ thể có quyền và phạm vi quyền được phép chuyển giao trước khi thực hiện định giá tài sản hợp đồng li-xăng. Kết luận lại, đối tượng định giá cần được xác định cụ thể cả về tài sản trí tuệ và phạm vi quyền được khai thác, bởi chính phạm vi quyền này có ảnh hưởng trực tiếp đến giá trị giao dịch.

3. Những yếu tố ảnh hưởng đến giá trị của tài sản trong hợp đồng li-xăng?

Giá trị của tài sản vô hình không chỉ phụ thuộc vào bản thân đối tượng sở hữu trí tuệ mà còn chịu ảnh hưởng bởi khả năng khai thác thương mại và phạm vi quyền được chuyển giao. Một số yếu tố quan trọng gồm:

  • Thời hạn bảo hộ hoặc thời gian khai thác kinh tế còn lại;
  • Phạm vi lãnh thổ được cấp quyền;
  • Hợp đồng độc quyền hay không độc quyền;
  • Lĩnh vực, sản phẩm và thị trường được phép khai thác;
  • Khả năng tạo doanh thu và lợi nhuận;
  • Mức độ cạnh tranh trên thị trường;
  • Tình trạng pháp lý và khả năng bảo vệ quyền;
  • Chi phí duy trì, phát triển và khai thác tài sản;
  • Khả năng thay thế bằng công nghệ hoặc tài sản trí tuệ khác;
  • Rủi ro pháp lý, thương mại và công nghệ.

Vì thế, khi định giá tài sản hợp đồng li-xăng, doanh nghiệp không nên chỉ dựa vào chi phí đã bỏ ra để tạo lập tài sản mà cần đánh giá toàn diện khả năng tạo ra lợi ích kinh tế trong phạm vi quyền được cấp.

III. Quy định của pháp luật về định giá tài sản hợp đồng li-xăng

Pháp luật hiện hành không xây dựng một cơ chế riêng mang tên “định giá tài sản hợp đồng li-xăng”. Tuy nhiên, các quy định về hợp đồng sử dụng đối tượng sở hữu công nghiệp, pháp luật về giá và chuẩn mực thẩm định giá tài sản vô hình tạo thành cơ sở pháp lý quan trọng để các bên thực hiện việc xác định giá trị.

1. Pháp luật quy định những căn cứ nào để xác định giá tài sản hợp đồng li-xăng?

Pháp luật Việt Nam hiện nay không quy định một công thức hoặc mức giá cố định để xác định giá chuyển giao quyền sử dụng đối tượng sở hữu công nghiệp trong hợp đồng li-xăng. Về nguyên tắc, giá chuyển giao quyền sử dụng do các bên tự do thỏa thuận trên cơ sở phạm vi quyền được chuyển giao, thời hạn, lãnh thổ, tính độc quyền và lợi ích kinh tế của việc khai thác đối tượng sở hữu công nghiệp, miễn là thỏa thuận đó không thuộc các trường hợp bị pháp luật cấm hoặc hạn chế.

Căn cứ khoản 1 Điều 144 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005, giá chuyển giao quyền sử dụng là một trong những nội dung của hợp đồng sử dụng đối tượng sở hữu công nghiệp. Tuy nhiên, quy định này không ấn định mức giá hay phương pháp tính giá, mà để các bên thỏa thuận trong hợp đồng. Việc tự do thỏa thuận về giá cũng phải bảo đảm không vi phạm các quy định về hạn chế chuyển quyền sử dụng đối tượng sở hữu công nghiệp, đặc biệt là các trường hợp quy định tại Điều 142 Luật Sở hữu trí tuệ 2005. Đồng thời, đối với giao dịch giữa các bên có quan hệ liên kết hoặc trường hợp pháp luật chuyên ngành có yêu cầu về xác định giá, các bên còn phải tuân thủ quy định pháp luật có liên quan.

Trường hợp các bên cần xác định giá trị kinh tế của quyền sở hữu công nghiệp một cách độc lập, có thể thuê tổ chức thẩm định giá thực hiện việc định giá tài sản vô hình theo Chuẩn mực thẩm định giá Việt Nam về thẩm định giá tài sản vô hình được ban hành tại Thông tư 37/2024/TT-BTC. Khi đó, giá trị có thể được xem xét dựa trên đặc điểm pháp lý và kinh tế của quyền, thời hạn khai thác, phạm vi lãnh thổ, mức độ độc quyền, khả năng tạo ra thu nhập, dữ liệu thị trường và các yếu tố liên quan. Điều 20 Nghị định 250/2025/NĐ-CP cũng có thể được tham khảo trong trường hợp giá trị quyền sở hữu công nghiệp cần được xác định trong tố tụng hình sự, bởi Nghị định này quy định về thành lập, hoạt động của Hội đồng định giá tài sản và trình tự, thủ tục định giá tài sản trong tố tụng hình sự. Tuy nhiên, nghị định này không phải là căn cứ trực tiếp để xác định giá li-xăng trong hợp đồng thương mại thông thường.

Tóm lại, pháp luật hiện hành không quy định một mức giá hoặc công thức bắt buộc để định giá tài sản trong hợp đồng li-xăng. Các bên về nguyên tắc được tự do thỏa thuận giá, nhưng thỏa thuận phải phù hợp với quy định pháp luật và không thuộc các trường hợp bị cấm hoặc hạn chế. Khi cần xác định giá trị khách quan, các bên có thể sử dụng dịch vụ thẩm định giá tài sản vô hình theo quy định pháp luật về giá và thẩm định giá.

2. Các bên có thể áp dụng những phương pháp định giá tài sản nào?

Đối với tài sản vô hình, trong đó có quyền sở hữu công nghiệp, các bên có thể lựa chọn phương pháp định giá phù hợp với đặc điểm tài sản, mục đích định giá và khả năng thu thập dữ liệu. Theo khoản 1 Điều 6 Chuẩn mực thẩm định giá Việt Nam về thẩm định giá tài sản vô hình ban hành kèm theo Thông tư số 37/2024/TT-BTC, các cách tiếp cận chủ yếu trong thẩm định giá tài sản vô hình gồm cách tiếp cận từ thu nhập, cách tiếp cận từ chi phí và cách tiếp cận từ thị trường. Trong đó, cách tiếp cận từ thu nhập gồm các phương pháp như phương pháp tiền sử dụng tài sản vô hình, phương pháp lợi nhuận vượt trội và phương pháp thu nhập tăng thêm.

Đối với giao dịch li-xăng, phương pháp tiền sử dụng tài sản vô hình có thể đặc biệt phù hợp khi có thể xác định được khoản tiền sử dụng mà bên nhận quyền đáng lẽ phải trả nếu không sở hữu quyền đối với tài sản vô hình đó. Bên cạnh đó, dữ liệu về các giao dịch li-xăng hoặc tài sản vô hình tương đồng trên thị trường cũng có thể được sử dụng để tham chiếu khi định giá.

Ngoài ra, Điều 20 Nghị định 250/2025/NĐ-CP, việc định giá tài sản có thể dựa trên giá của tài sản có hoạt động chuyển nhượng, chào mua, chào bán công khai; báo cáo, chứng thư thẩm định giá; hồ sơ, tài liệu hợp pháp và các thông tin khác giúp xác định giá tài sản. Theo Điều 23 Nghị định 250/2025/NĐ-CP, phương pháp định giá được lựa chọn căn cứ vào loại tài sản, thông tin và đặc điểm của tài sản, tình hình khảo sát, thu thập thông tin, đồng thời ưu tiên áp dụng phương pháp theo pháp luật chuyên ngành trước khi áp dụng phương pháp định giá chung hoặc phương pháp thẩm định giá theo pháp luật về giá.

Tuy nhiên, cần lưu ý rằng Nghị định 250/2025/NĐ-CP điều chỉnh việc định giá tài sản trong tố tụng hình sự, không phải là căn cứ trực tiếp bắt buộc các bên phải áp dụng khi tự thỏa thuận giá trong hợp đồng li-xăng thương mại. Đối với hợp đồng li-xăng thông thường, các bên vẫn có quyền tự do thỏa thuận giá, còn các phương pháp tại Thông tư 37/2024/TT-BTC có ý nghĩa quan trọng khi cần xác định giá trị tài sản vô hình một cách chuyên môn, khách quan.

3. Kết quả định giá tài sản được sử dụng như thế nào trong quá trình giao kết và thực hiện hợp đồng li-xăng?

Kết quả định giá tài sản hợp đồng li-xăng trước hết có thể được sử dụng làm cơ sở tham khảo để các bên đàm phán giá chuyển giao quyền sử dụng. Đối với hợp đồng sử dụng đối tượng sở hữu công nghiệp, giá chuyển giao quyền sử dụng là nội dung chủ yếu theo Điều 144 Luật Sở hữu trí tuệ 2005. Kết quả định giá cũng có thể hỗ trợ doanh nghiệp xây dựng mức phí trả một lần, phí định kỳ hoặc tỷ lệ phí theo doanh thu; đánh giá hiệu quả đầu tư và làm cơ sở cho việc điều chỉnh giá khi điều kiện khai thác thay đổi.

Tuy nhiên, cần lưu ý rằng kết quả thẩm định giá không mặc nhiên biến thành “giá bắt buộc” của hợp đồng. Theo khoản 16 Điều 4 Luật Giá 2023 xác định thẩm định giá là hoạt động tư vấn xác định giá trị tài sản phục vụ một mục đích nhất định; vì vậy, kết quả này cần được sử dụng đúng mục đích và trong phạm vi của báo cáo, chứng thư thẩm định giá. Kết luận lại, kết quả định giá là cơ sở quan trọng hỗ trợ quyết định thương mại nhưng không thay thế sự thỏa thuận hợp pháp của các bên về giá chuyển giao quyền sử dụng.

4. Định giá tài sản không đúng hoặc không phù hợp với quy định có thể phát sinh những hậu quả pháp lý gì?

Việc định giá tài sản không đúng quy định không đương nhiên làm hợp đồng li-xăng vô hiệu. Tuy nhiên, tùy vào chủ thể thực hiện, hành vi vi phạm và hậu quả phát sinh, có thể dẫn đến trách nhiệm dân sự, xử phạt vi phạm hành chính hoặc trách nhiệm hình sự.

Trường hợp các bên tự thỏa thuận giá chuyển giao quyền sử dụng trong hợp đồng li-xăng, pháp luật về sở hữu trí tuệ không quy định một mức giá bắt buộc. Do đó, việc các bên thỏa thuận mức giá cao hoặc thấp không phải tự thân là hành vi vi phạm. Tuy nhiên, nếu việc xác định giá được thực hiện trên cơ sở gian dối, giả tạo, thông tin không trung thực nhằm che giấu giao dịch, trốn nghĩa vụ tài chính, gây thiệt hại cho chủ thể khác hoặc thực hiện hành vi trái pháp luật thì chủ thể có hành vi vi phạm có thể phải chịu trách nhiệm tương ứng theo quy định pháp luật.

Đối với trường hợp thuê doanh nghiệp thẩm định giá chuyên nghiệp, theo điểm a khoản 2 Điều 22 Nghị định 87/2024/NĐ-CP, thẩm định viên về giá có thể bị phạt từ 30.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng nếu không thực hiện đúng quy định về thu thập thông tin, không thực hiện đúng cách tiếp cận và phương pháp thẩm định giá hoặc không áp dụng đầy đủ các phương pháp theo Chuẩn mực thẩm định giá Việt Nam. Ngoài tiền phạt, thẩm định viên còn có thể bị tước quyền sử dụng có thời hạn Thẻ thẩm định viên về giá từ 02 tháng đến 03 tháng.

Đặc biệt, nếu có hành vi mua chuộc, hối lộ, câu kết, thỏa thuận để làm sai lệch giá trị tài sản thẩm định giá nhằm vụ lợi, trục lợi hoặc thông đồng về thẩm định giá, người vi phạm có thể bị phạt từ 100.000.000 đồng đến 150.000.000 đồng theo khoản 5 Điều 23 Nghị định 87/2024/NĐ-CP nếu hành vi chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự. Đối với hành vi này, còn có thể áp dụng hình thức xử phạt bổ sung là đình chỉ có thời hạn từ 06 tháng đến 09 tháng hoạt động kinh doanh dịch vụ thẩm định giá.

Ngoài ra, doanh nghiệp thẩm định giá còn có thể bị xử phạt trong trường hợp không xây dựng hoặc không thực hiện kiểm soát chất lượng báo cáo thẩm định giá, thực hiện dịch vụ không đúng quy định hoặc vi phạm các nghĩa vụ khác theo Điều 23 Nghị định 87/2024/NĐ-CP. Nghị định này quy định mức phạt tiền tối đa đối với cá nhân là 150.000.000 đồng và đối với tổ chức là 300.000.000 đồng.

Bên cạnh xử phạt hành chính, nếu kết quả định giá sai gây thiệt hại cho khách hàng hoặc chủ thể khác thì doanh nghiệp thẩm định giá, thẩm định viên hoặc chủ thể có lỗi có thể phải chịu trách nhiệm bồi thường theo pháp luật dân sự và trách nhiệm theo hợp đồng dịch vụ thẩm định giá. Trường hợp hành vi cố ý làm sai lệch giá trị tài sản có đủ dấu hiệu cấu thành tội phạm thì người thực hiện còn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

Tóm lại, nếu các bên chỉ tự thỏa thuận giá li-xăng thì không có quy định buộc phải áp dụng một mức giá cố định. Ngược lại, nếu sử dụng dịch vụ thẩm định giá thì thẩm định viên và doanh nghiệp thẩm định giá phải tuân thủ pháp luật về giá và chuẩn mực thẩm định giá; trường hợp vi phạm có thể bị phạt tiền, tước quyền sử dụng Thẻ thẩm định viên, đình chỉ hoạt động kinh doanh dịch vụ thẩm định giá, buộc khắc phục hậu quả, bồi thường thiệt hại và trong trường hợp nghiêm trọng có thể bị xử lý hình sự.

IV. Giải đáp các thắc mắc thường gặp về định giá tài sản hợp đồng li-xăng

Những câu hỏi dưới đây tập trung vào các tình huống thường phát sinh khi doanh nghiệp tiến hành định giá tài sản hợp đồng li-xăng trong thực tế.

1. Các bên có bắt buộc phải thuê tổ chức định giá khi xác định giá trị tài sản trong hợp đồng li-xăng không?

Hiện nay chưa có quy định chung bắt buộc mọi hợp đồng li-xăng đều phải thuê tổ chức thẩm định giá để xác định giá trị tài sản. Đối với hợp đồng sử dụng đối tượng sở hữu công nghiệp, pháp luật yêu cầu hợp đồng có giá chuyển giao quyền sử dụng nhưng không quy định mọi trường hợp phải có chứng thư thẩm định giá. Các bên có thể tự thỏa thuận phương pháp và mức giá. Tuy nhiên, với giao dịch có giá trị lớn, tài sản phức tạp hoặc có nguy cơ tranh chấp, việc sử dụng đơn vị thẩm định giá độc lập có thể giúp tăng tính khách quan. Vì vậy, thuê tổ chức thẩm định giá thường là giải pháp quản trị rủi ro hơn là nghĩa vụ bắt buộc trong mọi giao dịch li-xăng.

2. Có thể định giá lại tài sản sau khi hợp đồng li-xăng đã được ký kết không?

Về nguyên tắc, tài sản có thể được định giá lại sau khi hợp đồng đã được ký kết nếu các bên có nhu cầu xác định lại giá trị tài sản hoặc xuất hiện những yếu tố làm thay đổi đáng kể giá trị của tài sản. Việc định giá lại có thể được thực hiện theo thỏa thuận của các bên hoặc theo yêu cầu của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền trong những trường hợp pháp luật quy định.

Việc tài sản được định giá lại không đồng nghĩa với việc giá đã thỏa thuận trong hợp đồng đương nhiên thay đổi. Nếu muốn điều chỉnh mức giá hoặc phí li-xăng đã thỏa thuận, các bên phải căn cứ vào điều khoản điều chỉnh giá trong hợp đồng hoặc thỏa thuận sửa đổi, bổ sung hợp đồng, đồng thời bảo đảm không trái quy định pháp luật.

Theo Điều 20 và Điều 23 Nghị định 250/2025/NĐ-CP, trong trường hợp định giá tài sản trong tố tụng hình sự, việc xác định giá có thể dựa trên các thông tin, tài liệu hợp pháp và phương pháp định giá phù hợp với loại tài sản, đặc điểm tài sản và thông tin thu thập được. Quy định này cho thấy về mặt nguyên tắc, giá trị tài sản có thể được xác định lại khi có căn cứ và thông tin mới phù hợp. 

Đối với tài sản trí tuệ trong hợp đồng li-xăng, việc định giá lại cũng có thể phát sinh khi giá trị kinh tế của quyền sở hữu trí tuệ thay đổi đáng kể. Chẳng hạn, một nhãn hiệu sau thời gian khai thác có mức độ nhận diện và doanh thu tăng cao; một sáng chế được ứng dụng rộng rãi và tạo ra dòng tiền lớn hơn dự kiến; hoặc ngược lại, giá trị thương mại của tài sản giảm do xuất hiện công nghệ thay thế hoặc sản phẩm cạnh tranh. Trong những trường hợp này, các bên có thể sử dụng kết quả định giá lại làm cơ sở để đàm phán điều chỉnh phí li-xăng, nếu hợp đồng cho phép hoặc các bên thống nhất sửa đổi hợp đồng. Tóm lại, tài sản nói chung có thể được định giá lại sau khi hợp đồng được ký kết khi có nhu cầu hoặc có căn cứ phù hợp. Tuy nhiên, định giá lại không tự động làm thay đổi giá đã thỏa thuận trong hợp đồng; việc điều chỉnh giá phải tuân theo thỏa thuận của các bên và quy định pháp luật có liên quan.

3. Giá trị tài sản trong hợp đồng li-xăng có ảnh hưởng đến mức phí li-xăng không?

Giá trị của tài sản trí tuệ trong hợp đồng li-xăng có thể ảnh hưởng đến mức phí li-xăng, tuy nhiên không phải trong mọi trường hợp giá trị tài sản càng cao thì mức phí li-xăng đương nhiên càng lớn. Về bản chất, phí li-xăng là khoản tiền mà bên nhận quyền phải thanh toán cho bên có quyền để được phép sử dụng, khai thác tài sản trí tuệ trong phạm vi, thời hạn và điều kiện nhất định. Vì vậy, giá trị kinh tế của tài sản trí tuệ là một trong những căn cứ quan trọng để các bên xem xét, thương lượng mức phí, nhưng mức phí cụ thể còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác như phạm vi quyền được chuyển giao, thời hạn sử dụng, lãnh thổ khai thác, tính độc quyền của quyền li-xăng, khả năng sinh lợi của tài sản và phương thức thanh toán được các bên lựa chọn.

Trên thực tế, một tài sản trí tuệ có giá trị cao thường có khả năng tạo ra lợi ích kinh tế lớn cho bên nhận quyền, từ đó có thể làm cơ sở để các bên xác lập mức phí li-xăng cao hơn. Chẳng hạn, quyền sử dụng một nhãn hiệu đã có uy tín, có lượng khách hàng lớn và khả năng tạo doanh thu đáng kể trên thị trường thường có giá trị khai thác cao hơn so với một nhãn hiệu mới, chưa được biết đến. Tương tự, quyền li-xăng độc quyền trên phạm vi toàn quốc trong thời hạn dài thường có giá trị kinh tế khác với quyền li-xăng không độc quyền, chỉ được khai thác trong một khu vực nhất định và trong thời gian ngắn. Do đó, khi xác định mức phí li-xăng, các bên thường phải đánh giá không chỉ bản thân tài sản trí tuệ mà còn cả giá trị của quyền khai thác mà bên nhận li-xăng thực tế được hưởng.

4. Khi các bên có kết quả định giá khác nhau thì xử lý như thế nào?

Khi các bên có kết quả định giá tài sản hợp đồng li-xăng khác nhau, trước hết cần kiểm tra phương pháp, căn cứ và phạm vi định giá mà mỗi bên đã sử dụng. Pháp luật hiện nay chưa có quy định riêng bắt buộc trong mọi hợp đồng li-xăng phải sử dụng một mức giá duy nhất hoặc phải lựa chọn kết quả định giá của một bên. Vì vậy, nếu các bên không có thỏa thuận khác trong hợp đồng, các bên có thể thương lượng, đối chiếu lại hồ sơ và thống nhất lựa chọn phương pháp hoặc thuê một tổ chức có chức năng định giá độc lập để xác định lại giá trị tài sản.

Nếu hai kết quả khác nhau do áp dụng các phương pháp khác nhau thì không nên chỉ căn cứ vào con số cao hơn hoặc thấp hơn để kết luận kết quả nào chính xác, mà cần xem xét tính phù hợp của phương pháp với đặc điểm và mục đích khai thác tài sản trí tuệ. Nếu tranh chấp phát sinh và các bên không thể thống nhất, kết quả định giá của mỗi bên có thể được sử dụng như một nguồn tài liệu, chứng cứ để bảo vệ quan điểm của mình. Trường hợp giải quyết tại Tòa án, việc xác định giá trị tài sản có thể được thực hiện thông qua hoạt động định giá, thẩm định giá theo quy định của pháp luật tố tụng và pháp luật về giá; Tòa án sẽ đánh giá chứng cứ và các kết quả định giá theo quy định pháp luật, thay vì mặc nhiên công nhận kết quả do một bên tự xác lập.

Kết luận lại, khi các bên có kết quả định giá tài sản hợp đồng li-xăng khác nhau, không có quy định cho phép mặc nhiên lấy kết quả của bên nào làm căn cứ cuối cùng. Các bên nên ưu tiên đối chiếu phương pháp định giá, thương lượng hoặc thuê tổ chức độc lập định giá lại; nếu phát sinh tranh chấp thì kết quả định giá sẽ được xem xét cùng với các chứng cứ và thỏa thuận trong hợp đồng để xác định giá trị phù hợp.

5. Có thể sử dụng kết quả định giá tài sản hợp đồng li-xăng để giải quyết tranh chấp không?

Kết quả định giá tài sản hợp đồng li-xăng có thể được sử dụng làm tài liệu, chứng cứ để các bên bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình khi phát sinh tranh chấp, đặc biệt trong các tranh chấp liên quan đến giá trị quyền sở hữu trí tuệ, mức phí li-xăng, tiền bồi thường thiệt hại hoặc các nghĩa vụ tài chính khác. Theo pháp luật tố tụng dân sự, kết quả định giá, thẩm định giá tài sản là một trong những nguồn chứng cứ có thể được sử dụng để giải quyết vụ án.

Tuy nhiên, kết quả định giá tài sản hợp đồng li-xăng không mặc nhiên được Tòa án chấp nhận chỉ vì được lập bởi một tổ chức định giá. Giá trị chứng minh của kết quả định giá còn phụ thuộc vào chủ thể thực hiện, phương pháp định giá, căn cứ và dữ liệu được sử dụng, thời điểm định giá cũng như tính phù hợp của kết quả với đối tượng cần định giá. Nếu cần thiết, Tòa án có thể xem xét việc định giá hoặc thẩm định giá theo quy định tố tụng để có thêm căn cứ xác định giá trị tài sản đang tranh chấp.

Vì vậy, khi sử dụng kết quả định giá tài sản hợp đồng li-xăng để giải quyết tranh chấp, các bên cần chứng minh được phương pháp định giá có cơ sở và phù hợp với mục đích định giá. Kết quả thẩm định giá theo pháp luật về giá cũng được sử dụng làm một trong những căn cứ để chủ sở hữu, người có quyền sử dụng tài sản và các bên liên quan xem xét, quyết định về giá trị tài sản.

V. NPLaw hỗ trợ doanh nghiệp định giá tài sản hợp đồng li-xăng như thế nào?

Việc định giá tài sản hợp đồng li-xăng không chỉ liên quan đến một con số về giá trị mà còn gắn với tình trạng pháp lý của tài sản, phạm vi quyền được chuyển giao và cơ chế thanh toán trong hợp đồng. Do đó, doanh nghiệp cần kết hợp giữa phân tích pháp lý và đánh giá kinh tế để hạn chế rủi ro. NPLaw có thể hỗ trợ doanh nghiệp:

  • Rà soát tình trạng pháp lý của đối tượng sở hữu trí tuệ trước khi định giá;
  • Xác định phạm vi quyền có thể đưa vào hợp đồng li-xăng;
  • Tư vấn cơ chế phí li-xăng trả một lần, định kỳ hoặc theo doanh thu;
  • Phối hợp với tổ chức thẩm định giá đủ điều kiện khi doanh nghiệp có nhu cầu định giá độc lập;
  • Rà soát phương pháp và dữ liệu được sử dụng trong hồ sơ định giá;
  • Tư vấn cơ chế điều chỉnh giá, định giá lại và xử lý chênh lệch giá trị;
  • Tư vấn, hỗ trợ giải quyết tranh chấp liên quan đến giá trị tài sản và phí li-xăng.

NPLaw có thể giúp doanh nghiệp phân tích các vấn đề pháp lý liên quan trước khi lựa chọn phương án định giá, đồng thời rà soát sự phù hợp giữa kết quả định giá và các điều khoản của hợp đồng li-xăng. Vì vậy, khi giao dịch liên quan đến tài sản sở hữu trí tuệ có giá trị lớn, doanh nghiệp nên thực hiện rà soát pháp lý và định giá một cách độc lập, có cơ sở nhằm hạn chế tranh chấp về giá chuyển giao quyền sử dụng, phí li-xăng và quyền lợi của các bên.

Trên đây là các thông tin mang tính tham khảo, Quý khách hàng cần tư vấn chi tiết về trường hợp cụ thể, vui lòng liên hệ cho Hãng luật NPLaw để được tư vấn ngay.


CÔNG TY LUẬT TNHH NGỌC PHÚ

Tổng đài tư vấn và CSKH: 0913419996

Hotline: 0913449968

Email: legal@nplaw.vn

Tài liệu tham khảo:

Bài viết liên quan