Vi phạm điều khoản hợp đồng li-xăng là một trong những nguyên nhân phổ biến làm phát sinh tranh chấp trong hoạt động chuyển giao quyền sở hữu trí tuệ, ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của các bên. Vậy vi phạm điều khoản hợp đồng li-xăng được hiểu như thế nào, các hành vi vi phạm thường gặp là gì và pháp luật quy định ra sao về xử lý vi phạm, bồi thường thiệt hại? Hãy cùng NPLaw tìm hiểu trong bài viết dưới đây.
Hiện nay, nhiều doanh nghiệp lựa chọn ký kết hợp đồng li-xăng để khai thác sáng chế, nhãn hiệu, kiểu dáng công nghiệp, quyền tác giả hoặc các đối tượng sở hữu trí tuệ khác. Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện hợp đồng, các tranh chấp phát sinh ngày càng phổ biến, đặc biệt liên quan đến việc sử dụng quyền sở hữu trí tuệ vượt quá phạm vi được cấp phép hoặc không thực hiện đúng nghĩa vụ đã cam kết. Một số vi phạm thường gặp gồm: sử dụng đối tượng sở hữu trí tuệ ngoài phạm vi lãnh thổ hoặc thời hạn được cấp phép; chuyển giao quyền sử dụng cho bên thứ ba khi chưa được phép; chậm hoặc không thanh toán phí li-xăng; sử dụng sai tiêu chuẩn chất lượng đối với nhãn hiệu được cấp phép; không bảo mật bí mật công nghệ; hoặc tiếp tục khai thác quyền sau khi hợp đồng đã chấm dứt.

Những hành vi này không chỉ dẫn đến trách nhiệm bồi thường thiệt hại mà còn có thể làm phát sinh tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ, ảnh hưởng đến uy tín doanh nghiệp, hoạt động sản xuất kinh doanh và giá trị thương mại của tài sản trí tuệ. Vì vậy, việc hiểu đúng quy định pháp luật về vi phạm hợp đồng li-xăng là yêu cầu cần thiết đối với cả bên cấp li-xăng và bên nhận li-xăng.
Để xác định một hành vi có phải là vi phạm điều khoản hợp đồng li-xăng hay không, trước hết cần hiểu đúng bản chất của vi phạm hợp đồng, các điều khoản thường phát sinh tranh chấp, dấu hiệu nhận biết hành vi vi phạm cũng như những lưu ý khi giao kết và thực hiện hợp đồng. Đây là cơ sở quan trọng để các bên phòng ngừa rủi ro và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình.
Hiện nay, pháp luật Việt Nam chưa có quy định riêng định nghĩa “vi phạm điều khoản hợp đồng li-xăng”. Tuy nhiên, căn cứ các quy định chung về trách nhiệm do vi phạm nghĩa vụ và vi phạm hợp đồng, có thể xác định nội hàm của hành vi này. Theo Điều 351 Bộ luật Dân sự 2015, bên có nghĩa vụ phải chịu trách nhiệm dân sự khi không thực hiện, thực hiện không đúng hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ của mình, trừ trường hợp được miễn trách nhiệm theo quy định của pháp luật. Bên cạnh đó, khoản 12 Điều 3 Luật Thương mại 2005 quy định vi phạm hợp đồng là việc một bên không thực hiện, thực hiện không đầy đủ hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ theo thỏa thuận hoặc theo quy định của Luật Thương mại.
Theo đó, vi phạm điều khoản hợp đồng li-xăng là việc một bên trong hợp đồng li-xăng không thực hiện, thực hiện không đầy đủ hoặc thực hiện không đúng các quyền, nghĩa vụ đã được thỏa thuận trong hợp đồng hoặc theo quy định của pháp luật có liên quan đến việc chuyển giao, khai thác và sử dụng quyền sở hữu trí tuệ. Các hành vi vi phạm có thể liên quan đến phạm vi và thời hạn sử dụng quyền, đối tượng li-xăng, phương thức khai thác quyền sở hữu trí tuệ, nghĩa vụ thanh toán phí li-xăng, bảo mật thông tin, báo cáo, kiểm soát chất lượng hoặc các nghĩa vụ khác theo thỏa thuận của các bên.
Theo khoản 1 Điều 144 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 (được sửa đổi, bổ sung năm 2022), hợp đồng sử dụng đối tượng sở hữu công nghiệp phải có các nội dung chủ yếu như: phạm vi chuyển giao, thời hạn hợp đồng, giá chuyển giao quyền sử dụng, quyền và nghĩa vụ của các bên. Trong thực tế, các tranh chấp thường phát sinh từ việc vi phạm các điều khoản này, cụ thể:
Như vậy, phần lớn các tranh chấp trong hợp đồng li-xăng đều xuất phát từ việc một bên không tuân thủ các điều khoản cơ bản về phạm vi sử dụng, thời hạn, giá chuyển giao quyền sử dụng hoặc quyền và nghĩa vụ của các bên. Do đó, việc xây dựng hợp đồng chặt chẽ và thực hiện đúng các cam kết đã thỏa thuận là yếu tố quan trọng giúp hạn chế rủi ro pháp lý và bảo đảm hiệu quả khai thác quyền sở hữu trí tuệ.
Hiện nay, pháp luật Việt Nam chưa có quy định riêng về dấu hiệu xác định vi phạm điều khoản hợp đồng li-xăng. Tuy nhiên, căn cứ Điều 351 Bộ luật Dân sự 2015 và khoản 12 Điều 3 Luật Thương mại 2005, có thể xác định một hành vi là vi phạm hợp đồng li-xăng khi có các dấu hiệu sau:

Như vậy, dấu hiệu quan trọng nhất để nhận biết vi phạm điều khoản hợp đồng li-xăng là có sự không phù hợp giữa hành vi thực tế của một bên với nghĩa vụ mà bên đó phải thực hiện theo hợp đồng hoặc theo pháp luật. Việc có phát sinh bồi thường thiệt hại hay chế tài khác hay không sẽ tiếp tục được xem xét dựa trên hậu quả của hành vi vi phạm và các quy định pháp luật có liên quan.
Khi xảy ra vi phạm điều khoản hợp đồng li-xăng, việc xác định hậu quả pháp lý và chế tài áp dụng là vấn đề được các bên đặc biệt quan tâm. Pháp luật hiện hành đã có những quy định cụ thể về hiệu lực của hợp đồng, các chế tài xử lý, trách nhiệm bồi thường thiệt hại cũng như những lưu ý nhằm hạn chế rủi ro khi giải quyết tranh chấp phát sinh từ hợp đồng li-xăng.
Theo khoản 2 Điều 144 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 (được sửa đổi, bổ sung năm 2022), hợp đồng li-xăng không được quy định các điều khoản hạn chế bất hợp lý quyền của bên được chuyển quyền, như: (i) cấm cải tiến đối tượng sở hữu công nghiệp hoặc buộc chuyển giao miễn phí các cải tiến (trừ nhãn hiệu); (ii) hạn chế xuất khẩu trái pháp luật; (iii) buộc mua nguyên liệu, linh kiện, thiết bị từ bên chuyển quyền hoặc bên thứ ba do bên này chỉ định mà không nhằm bảo đảm chất lượng; và (iv) cấm khiếu kiện về hiệu lực quyền sở hữu công nghiệp hoặc quyền chuyển giao.
Theo khoản 3 Điều 144 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 (được sửa đổi, bổ sung năm 2022), chỉ các điều khoản thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này mới mặc nhiên bị vô hiệu, còn hợp đồng vẫn có hiệu lực đối với các nội dung còn lại. Do đó, vi phạm các điều khoản khác của hợp đồng chỉ làm phát sinh trách nhiệm pháp lý hoặc các chế tài theo thỏa thuận và quy định của pháp luật, trừ trường hợp có căn cứ khác làm vô hiệu hợp đồng, chứ không làm ảnh hưởng đến hiệu lực của hợp đồng.
Theo Điều 292 Luật Thương mại 2005, khi xảy ra vi phạm hợp đồng, các bên có thể áp dụng các chế tài như: buộc thực hiện đúng hợp đồng, phạt vi phạm, buộc bồi thường thiệt hại, tạm ngừng thực hiện hợp đồng, đình chỉ thực hiện hợp đồng, hủy bỏ hợp đồng và các chế tài khác do các bên thỏa thuận không trái pháp luật.
Trường hợp hành vi vi phạm đồng thời xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ, Điều 202 Luật Sở hữu trí tuệ còn quy định Tòa án có thể áp dụng các biện pháp dân sự như buộc chấm dứt hành vi xâm phạm, buộc thực hiện nghĩa vụ dân sự, buộc bồi thường thiệt hại, buộc xin lỗi, cải chính công khai hoặc buộc tiêu hủy hàng hóa, phương tiện vi phạm.
Theo Điều 351, Điều 360 và Điều 419 Bộ luật Dân sự 2015, việc yêu cầu bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng li-xăng cần xem xét khi có đủ ba điều kiện: (i) có hành vi vi phạm hợp đồng; (ii) có thiệt hại thực tế; và (iii) có quan hệ nhân quả. Cụ thể:
Như vậy, để yêu cầu bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng li-xăng, bên bị vi phạm cần chứng minh đầy đủ hành vi vi phạm, thiệt hại thực tế và mối quan hệ nhân quả giữa hành vi vi phạm và thiệt hại; trường hợp hành vi đó đồng thời xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ thì việc xác định thiệt hại và mức bồi thường được thực hiện theo các quy định tương ứng của Luật Sở hữu trí tuệ.
Để hạn chế rủi ro pháp lý khi xảy ra vi phạm điều khoản hợp đồng li-xăng, các bên cần xây dựng hợp đồng đầy đủ và rõ ràng theo Điều 144 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 (được sửa đổi, bổ sung năm 2022). Theo đó, hợp đồng cần quy định cụ thể các nội dung chủ yếu như: thông tin của các bên, căn cứ chuyển giao quyền sử dụng, dạng hợp đồng, phạm vi chuyển giao (bao gồm giới hạn quyền sử dụng và lãnh thổ), thời hạn hợp đồng, giá chuyển giao quyền sử dụng và quyền, nghĩa vụ của mỗi bên.

Bên cạnh đó, các bên cần lưu ý không thỏa thuận các điều khoản hạn chế bất hợp lý quyền của bên được chuyển quyền theo khoản 2 Điều 144 Luật Sở hữu trí tuệ, như cấm cải tiến đối tượng sở hữu công nghiệp trái quy định, hạn chế xuất khẩu hàng hóa một cách bất hợp lý, buộc mua nguyên liệu không nhằm mục đích bảo đảm chất lượng hoặc cấm bên được chuyển quyền khiếu kiện về hiệu lực của quyền sở hữu công nghiệp. Theo khoản 3 Điều 144 Luật Sở hữu trí tuệ, các điều khoản thuộc các trường hợp này mặc nhiên bị vô hiệu.
Bên cạnh các quy định của pháp luật, trong quá trình giao kết và thực hiện hợp đồng li-xăng, các bên thường gặp nhiều vướng mắc liên quan đến trách nhiệm bồi thường, áp dụng chế tài, hiệu lực của hợp đồng và nghĩa vụ chứng minh khi phát sinh tranh chấp. Dưới đây là giải đáp một số câu hỏi thường gặp về vi phạm điều khoản hợp đồng li-xăng theo quy định của pháp luật hiện hành.
Theo Điều 585 Bộ luật Dân sự 2015 quy định thiệt hại thực tế phải được bồi thường toàn bộ và kịp thời; tuy nhiên, bên bị thiệt hại sẽ không được bồi thường đối với phần thiệt hại do lỗi của mình gây ra hoặc do không áp dụng các biện pháp cần thiết, hợp lý để ngăn chặn, hạn chế thiệt hại. Do đó, không phải mọi vi phạm điều khoản hợp đồng li-xăng đều làm phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại mà phải đáp ứng đầy đủ các điều kiện theo quy định của pháp luật.
Điều 2 Luật Thương mại 2005, hợp đồng li-xăng được giao kết giữa các thương nhân hoặc có mục đích thương mại, quan hệ hợp đồng nên có thể thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật Thương mại 2005. Khoản 2 Điều 307 Luật Thương mại 2005, nếu các bên có thỏa thuận về phạt vi phạm thì bên bị vi phạm có quyền đồng thời yêu cầu áp dụng chế tài phạt vi phạm và bồi thường thiệt hại, trừ trường hợp Luật Thương mại có quy định khác. Vì vậy, khi hợp đồng li-xăng có điều khoản về phạt vi phạm và đáp ứng điều kiện phát sinh trách nhiệm bồi thường theo quy định của pháp luật, bên bị vi phạm có thể yêu cầu áp dụng đồng thời cả hai chế tài này.
Theo Điều 300 Luật Thương mại 2005, phạt vi phạm chỉ được áp dụng khi trong hợp đồng có thỏa thuận về việc phạt vi phạm. Nếu hợp đồng không có điều khoản này thì bên bị vi phạm không thể yêu cầu phạt vi phạm, nhưng vẫn có thể yêu cầu bồi thường thiệt hại nếu đáp ứng các điều kiện theo Điều 303 Luật Thương mại.
Việc một bên vi phạm điều khoản hợp đồng li-xăng không đồng nghĩa với việc toàn bộ hợp đồng bị vô hiệu. Theo khoản 3 Điều 144 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 (được sửa đổi, bổ sung năm 2022), chỉ những điều khoản thuộc các trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này (là các điều khoản hạn chế bất hợp lý quyền của bên được chuyển quyền) mới mặc nhiên bị vô hiệu.
Do đó, nếu hợp đồng li-xăng có các điều khoản như cấm bên được chuyển quyền cải tiến đối tượng sở hữu công nghiệp trái quy định, hạn chế xuất khẩu một cách bất hợp lý, buộc mua nguyên liệu không cần thiết hoặc cấm khiếu kiện về hiệu lực quyền sở hữu công nghiệp thì các điều khoản đó sẽ vô hiệu. Tuy nhiên, điều này không đồng nghĩa với việc toàn bộ hợp đồng li-xăng bị vô hiệu, trừ trường hợp có căn cứ khác theo quy định của pháp luật.
Theo khoản 2 và khoản 3 Điều 203 Luật Sở hữu trí tuệ 2005, khi yêu cầu xử lý hành vi vi phạm điều khoản hợp đồng li-xăng, bên yêu cầu cần chuẩn bị các tài liệu, chứng cứ sau:
Trường hợp yêu cầu bồi thường thiệt hại, theo khoản 6 Điều 203 Luật Sở hữu trí tuệ, bên yêu cầu còn phải chứng minh thiệt hại thực tế đã xảy ra và căn cứ xác định mức bồi thường. Nếu chứng cứ cần thiết đang do bên còn lại kiểm soát và không thể tiếp cận được thì có quyền yêu cầu Tòa án buộc bên đang kiểm soát cung cấp chứng cứ theo quy định tại khoản 5 Điều 203 Luật Sở hữu trí tuệ 2005.
Tranh chấp về vi phạm điều khoản hợp đồng li-xăng thường liên quan đến nhiều quy định của pháp luật về sở hữu trí tuệ, dân sự và thương mại. Việc xác định hành vi vi phạm, áp dụng chế tài và yêu cầu bồi thường thiệt hại đòi hỏi phải đánh giá đầy đủ hợp đồng và các chứng cứ liên quan.
Với đội ngũ luật sư giàu kinh nghiệm, NPLaw hỗ trợ khách hàng tư vấn pháp lý, rà soát và soạn thảo hợp đồng li-xăng, đánh giá rủi ro, giải quyết tranh chấp và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp. Quý khách hàng có nhu cầu tư vấn chi tiết, vui lòng liên hệ Hãng luật NPLaw để được hỗ trợ kịp thời.
Trên đây là các thông tin mang tính tham khảo, Quý khách hàng cần tư vấn chi tiết về trường hợp cụ thể, vui lòng liên hệ cho Hãng luật NPLaw để được tư vấn ngay.
CÔNG TY LUẬT TNHH NGỌC PHÚ
Tổng đài tư vấn và CSKH: 0913419996
Hotline: 0913449968
Email: legal@nplaw.vn