Người nước ngoài sinh sống, làm việc, học tập hoặc du lịch tại Việt Nam phải tuân thủ pháp luật Việt Nam trong phạm vi pháp luật quy định. Khi phát sinh hành vi người nước ngoài vi phạm pháp luật, việc xác định trách nhiệm và biện pháp xử lý cần căn cứ vào tính chất của hành vi cũng như quy định pháp luật chuyên ngành.
Trong những năm gần đây, cùng với sự gia tăng mạnh mẽ số lượng người nước ngoài nhập cảnh, cư trú, làm việc và hoạt động tại Việt Nam, các vụ việc người nước ngoài vi phạm pháp luật cũng có xu hướng phát sinh đa dạng và phức tạp hơn.
Theo Bộ Công an, năm 2025 Việt Nam ghi nhận trên 22,8 triệu lượt người nước ngoài nhập cảnh, tăng khoảng 18% so với năm 2024; từ ngày 01/01/2026 đến thời điểm tháng 6/2026, đã có trên 9 triệu lượt người nước ngoài nhập cảnh, tăng 22,5% so với cùng kỳ năm 2025. Sự gia tăng này tạo điều kiện thuận lợi cho du lịch, đầu tư, thương mại, lao động và giao lưu quốc tế nhưng đồng thời cũng đặt ra những yêu cầu cao hơn đối với công tác quản lý người nước ngoài và phòng ngừa người nước ngoài vi phạm pháp luật. Bộ Công an nhận định tình trạng một số người nước ngoài lợi dụng chính sách thị thực, nhập cảnh, cư trú để thực hiện hành vi vi phạm pháp luật có chiều hướng diễn biến phức tạp.

Thực tiễn xử lý cho thấy hành vi vi phạm của người nước ngoài tại Việt Nam không chỉ giới hạn ở các vi phạm về xuất nhập cảnh, cư trú mà còn có thể liên quan đến các hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản, tổ chức đánh bạc, sử dụng công nghệ cao, ma túy, gây rối trật tự công cộng và các loại tội phạm có tính chất xuyên quốc gia. Đáng chú ý, một số vụ việc có sự cấu kết giữa người nước ngoài và cá nhân, tổ chức tại Việt Nam. Các đối tượng có thể thuê căn hộ, sử dụng hệ thống máy tính, thiết bị viễn thông và mạng xã hội để thực hiện hành vi vi phạm. Đây là yếu tố khiến việc xác định trách nhiệm pháp lý trở nên phức tạp, bởi vụ việc có thể đồng thời liên quan đến pháp luật hình sự, pháp luật về xuất nhập cảnh, cư trú, quản lý người nước ngoài và thậm chí cả cơ chế hợp tác quốc tế.
Bên cạnh đó, các hành vi vi phạm quy định về cư trú của người nước ngoài vẫn là vấn đề cần được chú trọng. Thực tế năm 2026 ghi nhận trường hợp lực lượng chức năng phát hiện 18 người nước ngoài cư trú bất hợp pháp do không có thị thực hợp lệ và đã quá thời hạn tạm trú nhưng không thực hiện thủ tục gia hạn. Pháp luật Việt Nam cũng đã xây dựng cơ chế xử lý riêng đối với người nước ngoài vi phạm hành chính. Theo quy định hiện hành, trục xuất là một trong những hình thức xử phạt có thể áp dụng đối với cá nhân là người nước ngoài có hành vi vi phạm hành chính thuộc trường hợp pháp luật quy định.
Do đó, khi người nước ngoài vi phạm pháp luật, việc xử lý không chỉ nhằm bảo đảm tính nghiêm minh của pháp luật mà còn phải xem xét đầy đủ tình trạng cư trú, quốc tịch, tính chất hành vi, mức độ nguy hiểm, hậu quả xảy ra và các yếu tố có liên quan đến quốc gia khác.
Tóm lại, sự gia tăng số lượng người nước ngoài tại Việt Nam vừa mang lại những lợi ích đáng kể về kinh tế – xã hội, vừa đặt ra yêu cầu tăng cường quản lý và xử lý hiệu quả các trường hợp người nước ngoài vi phạm pháp luật. Việc hiểu đúng quy định pháp luật và cơ chế xử lý trong từng trường hợp là cơ sở quan trọng để bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của người nước ngoài cũng như cá nhân, tổ chức Việt Nam có liên quan.
Để xác định đúng trách nhiệm pháp lý, trước hết cần phân biệt giữa vi phạm hành chính, tội phạm và các hành vi vi phạm pháp luật khác. Đây là cơ sở để lựa chọn cơ quan có thẩm quyền, thủ tục và chế tài phù hợp.
Người nước ngoài vi phạm pháp luật được hiểu là trường hợp người không có quốc tịch Việt Nam thực hiện hành vi trái với quy định của pháp luật Việt Nam và tùy tính chất, mức độ của hành vi mà có thể phải chịu trách nhiệm hành chính, hình sự, dân sự hoặc các trách nhiệm pháp lý khác theo quy định. Về mặt pháp lý, cần lưu ý rằng pháp luật Việt Nam không có một điều luật riêng đưa ra định nghĩa chung về “người nước ngoài vi phạm pháp luật”. Đây là cách gọi mang tính tổng quát để chỉ người nước ngoài thực hiện hành vi vi phạm các quy định pháp luật thuộc những lĩnh vực khác nhau. Theo khoản 1 Điều 3 Luật Nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam 2014, người nước ngoài được hiểu là người mang giấy tờ xác định quốc tịch nước ngoài và người không quốc tịch nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, cư trú tại Việt Nam. Từ khái niệm này có thể xác định chủ thể của hành vi vi phạm là người không mang quốc tịch Việt Nam hoặc người không quốc tịch thuộc phạm vi điều chỉnh của pháp luật về người nước ngoài. Khi người nước ngoài vi phạm pháp luật, cơ quan có thẩm quyền phải căn cứ vào hành vi cụ thể, địa điểm thực hiện, lỗi, hậu quả, tính chất và mức độ vi phạm để xác định loại trách nhiệm pháp lý và chế tài phù hợp; đồng thời phải xem xét các trường hợp được hưởng quyền ưu đãi, miễn trừ hoặc trường hợp điều ước quốc tế có quy định khác.
Về nguyên tắc, người nước ngoài khi thực hiện hành vi vi phạm trong phạm vi thuộc chủ quyền, quyền tài phán của Việt Nam phải chịu sự điều chỉnh và xử lý theo pháp luật Việt Nam. Cụ thể, khoản 1 Điều 5 Luật Xử lý vi phạm hành chính 2012 quy định cá nhân, tổ chức nước ngoài vi phạm hành chính trong phạm vi lãnh thổ Việt Nam và các khu vực thuộc quyền tài phán của Việt Nam thì bị xử phạt theo pháp luật Việt Nam, trừ trường hợp điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên có quy định khác.
Đối với hành vi có dấu hiệu tội phạm, khoản 1 Điều 5 Bộ luật Hình sự 2015 được áp dụng đối với mọi hành vi phạm tội thực hiện trên lãnh thổ Việt Nam. Tuy nhiên, trường hợp người nước ngoài được hưởng quyền miễn trừ ngoại giao, lãnh sự thì việc xử lý được thực hiện theo điều ước quốc tế, pháp luật Việt Nam và tập quán quốc tế có liên quan. Vì vậy, người nước ngoài không đương nhiên được miễn tuân thủ pháp luật Việt Nam chỉ vì mang quốc tịch nước ngoài.
Khi xác định trách nhiệm pháp lý của người nước ngoài vi phạm pháp luật, cơ quan có thẩm quyền phải xem xét toàn diện hành vi và các điều kiện liên quan. Trước hết là hành vi vi phạm, nhằm xác định người nước ngoài đã thực hiện hành vi gì, hành vi đó có trái với quy định pháp luật Việt Nam hay không và thuộc lĩnh vực xử lý nào. Tiếp theo là lỗi của người vi phạm, xác định hành vi được thực hiện do cố ý hay vô ý.

Đối với vi phạm hành chính, theo khoản 1 Điều 2 Luật Xử lý vi phạm hành chính 2012, vi phạm hành chính phải là hành vi có lỗi do cá nhân, tổ chức thực hiện. Cơ quan có thẩm quyền đồng thời xem xét tính chất, mức độ và hậu quả của hành vi, bởi đây là những căn cứ quan trọng để xác định hình thức, mức phạt và mức độ trách nhiệm. Bên cạnh đó, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ cũng được xem xét theo Điều 9 và Điều 10 Luật Xử lý vi phạm hành chính 2012. Đối với người nước ngoài, trong những trường hợp cụ thể còn cần xác định quốc tịch, tình trạng nhập cảnh, cư trú, giấy tờ pháp lý và địa vị ngoại giao, lãnh sự để kiểm tra việc có thuộc trường hợp được hưởng quyền ưu đãi, miễn trừ hay không. Nếu hành vi có dấu hiệu tội phạm thì việc xác định trách nhiệm hình sự còn phải căn cứ vào các yếu tố cấu thành tội phạm theo Bộ luật Hình sự 2015. Vì vậy, trách nhiệm của người nước ngoài được xác định trên cơ sở tổng hợp hành vi, lỗi, hậu quả, tính chất và mức độ vi phạm, nhân thân và các tình tiết liên quan, chứ không chỉ căn cứ vào việc người đó mang quốc tịch nước ngoài.
Pháp luật Việt Nam hiện điều chỉnh vấn đề này thông qua nhiều nhóm quy định khác nhau, trong đó đáng chú ý là pháp luật về xử lý vi phạm hành chính, hình sự, xuất nhập cảnh, cư trú và tương trợ tư pháp.
Việc xử lý người nước ngoài vi phạm pháp luật tại Việt Nam được thực hiện trên cơ sở bảo đảm tính nghiêm minh của pháp luật, đồng thời tôn trọng quyền và lợi ích hợp pháp của người vi phạm. Theo khoản 1 Điều 5 Luật Xử lý vi phạm hành chính 2012, người nước ngoài vi phạm hành chính trong phạm vi thuộc chủ quyền, quyền tài phán của Việt Nam về nguyên tắc bị xử phạt theo pháp luật Việt Nam, trừ trường hợp điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên có quy định khác. Việc xử phạt phải tuân thủ các nguyên tắc tại Điều 3 Luật Xử lý vi phạm hành chính 2012, trong đó có yêu cầu xử lý kịp thời, công khai, khách quan, đúng thẩm quyền, đúng pháp luật và căn cứ vào tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi vi phạm.
Đối với người nước ngoài, pháp luật còn quy định hình thức xử phạt trục xuất. Theo Điều 27 Luật Xử lý vi phạm hành chính 2012, trục xuất là hình thức xử phạt buộc người nước ngoài có hành vi vi phạm hành chính tại Việt Nam phải rời khỏi lãnh thổ Việt Nam. Tuy nhiên, trục xuất không được áp dụng một cách mặc nhiên mà phải căn cứ vào hành vi vi phạm và quy định cụ thể của pháp luật. Trường hợp người nước ngoài thuộc diện được hưởng quyền ưu đãi, miễn trừ ngoại giao hoặc lãnh sự, việc xử lý phải tuân thủ pháp luật Việt Nam, điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên và các quy định của pháp luật quốc tế có liên quan. Vì vậy, nguyên tắc xử lý người nước ngoài vi phạm pháp luật tại Việt Nam là đúng hành vi, đúng thẩm quyền, đúng trình tự, tương xứng với tính chất và mức độ vi phạm, đồng thời bảo đảm các quyền hợp pháp của người nước ngoài theo pháp luật Việt Nam và điều ước quốc tế.
Về xử lý vi phạm hành chính:
Người nước ngoài vi phạm pháp luật được áp dụng quy định pháp luật khác với công dân Việt Nam, nhưng chỉ trong một số trường hợp pháp luật có quy định riêng. Về nguyên tắc, người nước ngoài vi phạm pháp luật tại Việt Nam vẫn bị xử lý theo các quy định pháp luật Việt Nam tương tự công dân Việt Nam nếu cùng thực hiện một hành vi vi phạm. Tuy nhiên, do có địa vị pháp lý khác, người nước ngoài có thể chịu thêm hoặc áp dụng các quy định đặc thù về nhập cảnh, cư trú, xuất cảnh và trục xuất.
Cụ thể, khoản 1 Điều 5 Luật Xử lý vi phạm hành chính quy định cá nhân, tổ chức nước ngoài vi phạm hành chính trong phạm vi thuộc quyền tài phán của Việt Nam thì bị xử phạt theo pháp luật Việt Nam, trừ trường hợp điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên có quy định khác. Đặc biệt, Điều 27 Luật Xử lý vi phạm hành chính quy định trục xuất là hình thức xử phạt áp dụng đối với người nước ngoài vi phạm hành chính; đây là hình thức xử phạt không áp dụng đối với công dân Việt Nam. Ngoài ra, nếu người nước ngoài thuộc trường hợp được hưởng quyền ưu đãi, miễn trừ ngoại giao hoặc lãnh sự, việc xử lý còn phải tuân thủ quy định của điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên và pháp luật có liên quan.
Về trách nhiệm hình sự:
Nếu vi phạm hình sự thì về nguyên tắc, người nước ngoài không được áp dụng một hệ thống pháp luật hình sự riêng chỉ vì họ là người nước ngoài. Hành vi phạm tội thực hiện trên lãnh thổ Việt Nam về cơ bản được xử lý theo Bộ luật Hình sự Việt Nam, tương tự công dân Việt Nam.
Cụ thể, Điều 5 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 quy định Bộ luật Hình sự được áp dụng đối với mọi hành vi phạm tội thực hiện trên lãnh thổ Việt Nam. Trường hợp người nước ngoài phạm tội trên lãnh thổ Việt Nam thì về nguyên tắc sẽ bị điều tra, truy tố, xét xử theo pháp luật hình sự Việt Nam và có thể phải chịu các hình phạt được quy định trong Bộ luật Hình sự.
Tuy nhiên, theo khoản 2 Điều 5 Bộ luật Hình sự, đối với người nước ngoài phạm tội trên lãnh thổ Việt Nam thuộc đối tượng được hưởng quyền miễn trừ ngoại giao hoặc quyền ưu đãi, miễn trừ về lãnh sự theo pháp luật Việt Nam, điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên hoặc theo tập quán quốc tế, vấn đề trách nhiệm hình sự của họ được giải quyết theo quy định của điều ước quốc tế hoặc bằng con đường ngoại giao. Vì vậy, người nước ngoài không bị áp dụng một hệ thống pháp luật hoàn toàn khác với công dân Việt Nam, mà về nguyên tắc chịu sự điều chỉnh của pháp luật Việt Nam, đồng thời có thể áp dụng thêm các quy định đặc thù dành cho người nước ngoài.
Khi người nước ngoài vi phạm pháp luật và bị cơ quan có thẩm quyền xem xét, xử lý, họ vẫn được bảo đảm các quyền hợp pháp theo pháp luật Việt Nam. Đối với xử lý vi phạm hành chính, Điều 15 Luật Xử lý vi phạm hành chính 2012 quy định cá nhân, tổ chức bị xử lý có quyền khiếu nại, khởi kiện đối với quyết định xử lý vi phạm hành chính; đồng thời có quyền tố cáo hành vi vi phạm pháp luật của người có thẩm quyền trong quá trình xử lý.

Trường hợp vụ việc được giải quyết theo tố tụng hình sự, người nước ngoài có các quyền của người bị buộc tội theo Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, trong đó có quyền tự bào chữa hoặc nhờ người bào chữa, trình bày lời khai, đưa ra chứng cứ, tài liệu và yêu cầu, khiếu nại các quyết định, hành vi tố tụng theo quy định. Người nước ngoài không thông thạo tiếng Việt còn được bảo đảm quyền sử dụng người phiên dịch, dịch thuật để thực hiện quyền tố tụng của mình. Ngoài ra, nếu bị áp dụng trục xuất, người nước ngoài có các quyền theo pháp luật về xử lý vi phạm hành chính và quy định về trục xuất, trong đó có quyền được biết lý do bị trục xuất, nhận quyết định, yêu cầu phiên dịch và thực hiện quyền khiếu nại, tố cáo theo quy định. Vì vậy, người nước ngoài khi bị xử lý vi phạm pháp luật tại Việt Nam không chỉ có nghĩa vụ chấp hành mà còn được bảo đảm quyền giải trình, quyền được hỗ trợ pháp lý, quyền khiếu nại, tố cáo, khởi kiện và các quyền tố tụng khác theo từng trường hợp cụ thể.
Trường hợp người nước ngoài vi phạm pháp luật tại Việt Nam nhưng vụ việc có liên quan đến quốc gia khác, việc giải quyết trước hết căn cứ vào pháp luật Việt Nam, điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên và thỏa thuận hợp tác với quốc gia liên quan. Nếu hành vi thuộc thẩm quyền của Việt Nam thì cơ quan có thẩm quyền Việt Nam vẫn tiến hành xử lý theo quy định; trường hợp cần thu thập chứng cứ, tống đạt giấy tờ, lấy lời khai hoặc thực hiện hoạt động tố tụng ở nước ngoài thì có thể thực hiện thông qua cơ chế tương trợ tư pháp. Đối với vụ án hình sự có yếu tố nước ngoài, việc dẫn độ, chuyển giao người đang chấp hành hình phạt tù hoặc tương trợ tư pháp về hình sự được thực hiện theo pháp luật Việt Nam và điều ước quốc tế có liên quan. Ngoài ra, theo khoản 1 Điều 6 Luật Điều ước quốc tế 2016, trường hợp pháp luật Việt Nam và điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên có quy định khác nhau về cùng một vấn đề thì áp dụng quy định của điều ước quốc tế. Trường hợp người nước ngoài thuộc diện được hưởng quyền ưu đãi, miễn trừ ngoại giao hoặc lãnh sự, việc xử lý còn phải tuân thủ các quy định của pháp luật quốc tế và điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên. Vì vậy, việc có yếu tố liên quan đến quốc gia khác không đồng nghĩa vụ việc sẽ được chuyển sang quốc gia đó; cơ quan có thẩm quyền sẽ xác định thẩm quyền tài phán, điều ước quốc tế và cơ chế hợp tác quốc tế phù hợp để giải quyết vụ việc.
Dưới đây là những vấn đề thường phát sinh khi xử lý người nước ngoài vi phạm pháp luật tại Việt Nam.
Việc người nước ngoài không biết hoặc chưa hiểu rõ pháp luật Việt Nam không phải là căn cứ đương nhiên để được miễn trách nhiệm pháp lý khi có hành vi vi phạm. Đối với vi phạm hành chính, pháp luật yêu cầu xác định hành vi có lỗi; việc không biết quy định pháp luật không được quy định là căn cứ chung để miễn xử phạt. Đối với trách nhiệm hình sự, Điều 10 và Điều 11 Bộ luật Hình sự 2015 quy định về lỗi cố ý và lỗi vô ý; do đó, trách nhiệm hình sự được xác định dựa trên lỗi và các dấu hiệu cấu thành tội phạm, không chỉ dựa vào việc người vi phạm có biết quy định pháp luật hay không.
Tuy nhiên, trong từng vụ việc cụ thể, cơ quan có thẩm quyền vẫn phải xem xét nhận thức, lỗi, hoàn cảnh thực tế và các tình tiết giảm nhẹ của người vi phạm theo quy định pháp luật. Việc không biết pháp luật có thể được xem xét trong quá trình đánh giá vụ việc nếu pháp luật chuyên ngành có quy định phù hợp, nhưng không mặc nhiên làm mất trách nhiệm pháp lý. Vì vậy, người nước ngoài sinh sống, làm việc hoặc hoạt động tại Việt Nam có trách nhiệm chủ động tìm hiểu và tuân thủ pháp luật Việt Nam; không thể lấy lý do không biết pháp luật để đương nhiên được miễn xử lý khi có hành vi vi phạm.
Về nguyên tắc, khi người nước ngoài thực hiện hành vi vi phạm trong phạm vi lãnh thổ hoặc thuộc quyền tài phán của Việt Nam, hành vi đó được xử lý theo pháp luật Việt Nam. Cụ thể, khoản 1 Điều 5 Luật Xử lý vi phạm hành chính quy định cá nhân, tổ chức nước ngoài vi phạm hành chính trong phạm vi lãnh thổ, vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa Việt Nam hoặc trên tàu bay, tàu biển mang quốc tịch Việt Nam thì bị xử phạt theo pháp luật Việt Nam, trừ trường hợp điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên có quy định khác.
Đối với hành vi có dấu hiệu tội phạm, khoản 1 Điều 5 Bộ luật Hình sự quy định Bộ luật Hình sự 2015 được áp dụng đối với mọi hành vi phạm tội thực hiện trên lãnh thổ Việt Nam, kể cả hành vi hoặc hậu quả xảy ra trên tàu bay, tàu biển mang quốc tịch Việt Nam hoặc tại vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa Việt Nam. Tuy nhiên, không phải mọi trường hợp đều tuyệt đối áp dụng pháp luật Việt Nam. Nếu người nước ngoài được hưởng quyền miễn trừ ngoại giao, lãnh sự hoặc vụ việc thuộc trường hợp điều ước quốc tế có quy định khác thì việc xử lý phải tuân theo cơ chế tương ứng. Vì vậy, người nước ngoài vi phạm pháp luật tại Việt Nam về nguyên tắc phải chịu sự xử lý của pháp luật Việt Nam, nhưng cần kiểm tra thêm thẩm quyền tài phán, điều ước quốc tế và trường hợp miễn trừ trước khi xác định pháp luật và thủ tục áp dụng.
Người nước ngoài vi phạm pháp luật nhưng đã rời khỏi Việt Nam có thể tiếp tục bị xử lý. Đối với vi phạm hành chính, cơ quan có thẩm quyền vẫn có thể xử lý nếu còn thời hiệu và đáp ứng các điều kiện theo Luật Xử lý vi phạm hành chính. Theo Điều 6 Luật Xử lý vi phạm hành chính, thời hiệu xử phạt thông thường là 01 năm, một số lĩnh vực là 02 năm; trường hợp người vi phạm cố tình trốn tránh hoặc cản trở việc xử phạt thì thời hiệu được tính lại theo quy định. Đối với hành vi có dấu hiệu tội phạm, việc người nước ngoài đã xuất cảnh cũng không làm mất trách nhiệm hình sự nếu Việt Nam có thẩm quyền xử lý. Trong trường hợp người đó đang ở nước ngoài, cơ quan có thẩm quyền có thể thực hiện các cơ chế hợp tác quốc tế, trong đó có dẫn độ hoặc tương trợ tư pháp, nếu đáp ứng điều kiện theo pháp luật Việt Nam và điều ước quốc tế có liên quan. Tuy nhiên, việc có tiếp tục xử lý được hay không còn phụ thuộc vào tính chất hành vi, thời hiệu, thẩm quyền của Việt Nam, tình trạng của người vi phạm và khả năng áp dụng cơ chế hợp tác quốc tế trong từng trường hợp. Vì vậy, người nước ngoài không thể mặc nhiên tránh trách nhiệm pháp lý tại Việt Nam chỉ bằng việc rời khỏi lãnh thổ Việt Nam.
Người nước ngoài có quyền yêu cầu luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình khi bị xử lý vi phạm pháp luật tại Việt Nam. Đối với vụ án hình sự, Điều 16 và Điều 72 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 ghi nhận quyền tự bào chữa, nhờ người bào chữa và bảo đảm quyền bào chữa của người bị buộc tội. Người nước ngoài có thể nhờ luật sư Việt Nam tham gia bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp trong quá trình tố tụng theo quy định. Đối với vi phạm hành chính, người vi phạm có quyền giải trình, khiếu nại, khởi kiện quyết định xử phạt theo Điều 61 Luật Xử lý vi phạm hành chính 2012 (được sửa đổi bởi Khoản 30 Điều 1 Luật Xử lý vi phạm hành chính sửa đổi 2020) và Điều 15 Luật Xử lý vi phạm hành chính 2015; người nước ngoài có thể thuê luật sư để tư vấn, hỗ trợ giải trình và thực hiện các thủ tục pháp lý liên quan. Trường hợp người nước ngoài không thông thạo tiếng Việt, việc sử dụng phiên dịch, dịch thuật trong quá trình tố tụng được bảo đảm theo quy định pháp luật để họ có thể hiểu và thực hiện đầy đủ quyền của mình. Vì vậy, người nước ngoài hoàn toàn có quyền yêu cầu luật sư hỗ trợ, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp khi bị xử lý vi phạm pháp luật tại Việt Nam.
Không phải cứ có liên quan đến người nước ngoài vi phạm pháp luật thì cá nhân, tổ chức Việt Nam đều bị xử lý. Trách nhiệm pháp lý được xác định độc lập đối với từng chủ thể, dựa trên hành vi, lỗi và vai trò cụ thể của họ. Trường hợp cá nhân, tổ chức Việt Nam biết và có hành vi giúp sức, che giấu, chứa chấp, đồng phạm hoặc trực tiếp thực hiện hành vi vi phạm, thì có thể phải chịu trách nhiệm hành chính, dân sự hoặc hình sự tùy tính chất, mức độ và hậu quả của hành vi. Đối với trách nhiệm hình sự, việc xác định đồng phạm được thực hiện theo Điều 17 Bộ luật Hình sự 2015. Ngược lại, nếu cá nhân, tổ chức Việt Nam chỉ có quan hệ hợp pháp với người nước ngoài, chẳng hạn cho thuê nhà, cung cấp dịch vụ, sử dụng lao động hoặc giao dịch dân sự, mà không biết và không tham gia vào hành vi vi phạm thì không đương nhiên phải chịu trách nhiệm về hành vi của người nước ngoài. Vì vậy, cần xem xét cụ thể vai trò và hành vi của từng cá nhân, tổ chức Việt Nam để xác định có phát sinh trách nhiệm pháp lý hay không, thay vì chỉ căn cứ vào việc họ có quan hệ hoặc liên quan đến người nước ngoài vi phạm pháp luật.
Vụ việc người nước ngoài vi phạm pháp luật thường có tính chất phức tạp do đồng thời liên quan đến pháp luật Việt Nam, quốc tịch, ngôn ngữ, xuất nhập cảnh, cư trú và trong một số trường hợp là pháp luật hoặc cơ quan có thẩm quyền của quốc gia khác. Việc luật sư tham gia sớm giúp xác định hành vi thuộc lĩnh vực nào, có dấu hiệu vi phạm hành chính hay tội phạm, cơ quan nào có thẩm quyền giải quyết, thời hiệu còn hay không, khả năng áp dụng trục xuất và các quyền mà người nước ngoài được hưởng. NPLaw có thể hỗ trợ tư vấn, rà soát hồ sơ, giải thích quy định pháp luật, chuẩn bị văn bản giải trình, đơn khiếu nại, tài liệu pháp lý và hỗ trợ khách hàng làm việc với cơ quan có thẩm quyền trong phạm vi pháp luật cho phép.
Đối với vụ việc có yếu tố nước ngoài, luật sư còn có thể đánh giá khả năng áp dụng điều ước quốc tế, cơ chế tương trợ tư pháp, dẫn độ hoặc các thủ tục liên quan đến xuất nhập cảnh và cư trú. Vì vậy, việc tìm luật sư ngay từ giai đoạn đầu giúp người nước ngoài và cá nhân, tổ chức Việt Nam có liên quan chủ động đánh giá rủi ro, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, đồng thời hạn chế những sai sót có thể ảnh hưởng đến quá trình giải quyết vụ việc.
Trên đây là các thông tin mang tính tham khảo, Quý khách hàng cần tư vấn chi tiết về trường hợp cụ thể, vui lòng liên hệ cho Hãng luật NPLaw để được tư vấn ngay.
CÔNG TY LUẬT TNHH NGỌC PHÚ
Tổng đài tư vấn và CSKH: 0913419996
Hotline: 0913449968
Email: legal@nplaw.vn