Người nước ngoài vi phạm luật lệ giao thông đường bộ tại Việt Nam phải tuân thủ các quy định về điều kiện điều khiển phương tiện, giấy phép lái xe và trách nhiệm khi xảy ra vi phạm. Tùy tính chất, mức độ, hành vi có thể bị xử phạt hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự. Bài viết dưới đây sẽ giúp làm rõ quy định áp dụng và những lưu ý pháp lý cần thiết.
Cùng với sự gia tăng số lượng người nước ngoài sinh sống, làm việc và du lịch tại Việt Nam, vấn đề người nước ngoài vi phạm luật lệ giao thông đường bộ ngày càng được quan tâm. Các vi phạm có thể liên quan đến tốc độ, nồng độ cồn, điều khiển phương tiện không có giấy phép lái xe phù hợp hoặc không chấp hành tín hiệu giao thông. Việc xác định đúng quy định áp dụng và hình thức xử lý giúp bảo đảm quyền, nghĩa vụ của người nước ngoài, đồng thời góp phần duy trì trật tự, an toàn giao thông.
Để hiểu rõ trách nhiệm pháp lý khi tham gia giao thông tại Việt Nam, trước hết cần xác định khái niệm, quyền và nghĩa vụ cũng như các điều kiện mà người nước ngoài vi phạm luật lệ giao thông đường bộ có thể phải tuân thủ.
Người nước ngoài vi phạm luật lệ giao thông đường bộ được hiểu là người không mang quốc tịch Việt Nam khi tham gia giao thông trên lãnh thổ Việt Nam có hành vi không tuân thủ các quy định pháp luật về trật tự, an toàn giao thông đường bộ. Các hành vi này có thể bao gồm điều khiển phương tiện không đáp ứng điều kiện, không chấp hành tín hiệu giao thông, vi phạm quy định về tốc độ, nồng độ cồn hoặc các quy tắc giao thông khác.
Theo tinh thần chung của Luật Trật tự, an toàn giao thông đường bộ 2024, người tham gia giao thông phải chấp hành các quy tắc giao thông và chịu trách nhiệm đối với hành vi vi phạm của mình. Do đó, người nước ngoài khi tham gia giao thông tại Việt Nam cũng phải tuân thủ các quy định này và có thể bị áp dụng chế tài tương ứng nếu có hành vi vi phạm.

Đặc biệt, khoản 1 Điều 5 Luật Trật tự, an toàn giao thông đường bộ 2024 quy định việc tuyên truyền, phổ biến pháp luật về trật tự, an toàn giao thông đường bộ được thực hiện đối với “người nước ngoài trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”. Vì vậy, người nước ngoài khi tham gia giao thông tại Việt Nam cũng phải tuân thủ các quy định pháp luật về giao thông và được bảo đảm các quyền tương ứng khi làm việc với cơ quan có thẩm quyền.
Theo Điều 72 Luật Trật tự, an toàn giao thông đường bộ 2024, người điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ có các quyền và trách nhiệm nhất định. Quy định này không phân biệt quốc tịch, do đó người nước ngoài điều khiển phương tiện tại Việt Nam cũng được hưởng các quyền và phải thực hiện các trách nhiệm tương ứng.
Về quyền, theo khoản 1 Điều 72, người điều khiển phương tiện được điều khiển phương tiện theo quy định; được thông báo về căn cứ dừng phương tiện, nội dung và kết quả kiểm tra, kiểm soát, hành vi vi phạm và biện pháp xử lý; được giải trình, khiếu nại, khởi kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính liên quan đến quyền, lợi ích hợp pháp của mình; đồng thời có quyền tố cáo hành vi vi phạm pháp luật trong hoạt động tuần tra, kiểm soát và báo tin, tố giác, phản ánh trường hợp vi phạm pháp luật.
Về trách nhiệm, khoản 2 Điều 72 yêu cầu người điều khiển phương tiện phải chấp hành pháp luật về trật tự, an toàn giao thông đường bộ; chấp hành hiệu lệnh dừng phương tiện và yêu cầu kiểm tra, kiểm soát của lực lượng chức năng; hỗ trợ, hợp tác trong quá trình phát hiện, ngăn chặn và xử lý vi phạm.
Theo Điều 56 Luật Trật tự, an toàn giao thông đường bộ 2024, người nước ngoài khi điều khiển phương tiện tại Việt Nam phải đáp ứng các điều kiện áp dụng đối với người lái xe nói chung, trong đó có:
Riêng người lái xe gắn máy phải hiểu biết quy tắc giao thông đường bộ, có kỹ năng điều khiển phương tiện và đáp ứng điều kiện về độ tuổi, sức khỏe theo quy định tại điểm a khoản 1 và khoản 2 Điều 59 Luật Trật tự, an toàn giao thông đường bộ 2024.
Ngoài ra, nếu các giấy tờ đã được tích hợp vào tài khoản định danh điện tử thì việc xuất trình, kiểm tra có thể được thực hiện thông qua tài khoản này theo khoản 3 Điều 56 Luật này.
Để làm rõ trách nhiệm và chế tài áp dụng đối với người nước ngoài vi phạm luật lệ giao thông đường bộ tại Việt Nam, cần xem xét các quy định về hành vi vi phạm, hình thức xử phạt và những trường hợp đặc biệt liên quan đến giấy phép lái xe.
Người nước ngoài vi phạm luật lệ giao thông đường bộ tại Việt Nam thuộc đối tượng áp dụng của Nghị định 168/2024/NĐ-CP, bởi khoản 1 Điều 2 Nghị định này quy định áp dụng đối với cả cá nhân, tổ chức nước ngoài có hành vi vi phạm hành chính về trật tự, an toàn giao thông đường bộ trên lãnh thổ Việt Nam. Tùy hành vi và mức độ vi phạm, người vi phạm có thể bị cảnh cáo, phạt tiền, tịch thu phương tiện; đồng thời có thể bị áp dụng hình thức xử phạt bổ sung và biện pháp khắc phục hậu quả theo Điều 3 Nghị định 168/2024/NĐ-CP.

Trường hợp hành vi vi phạm gây hậu quả nghiêm trọng và đủ yếu tố cấu thành tội phạm, người nước ngoài vẫn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo pháp luật Việt Nam. Cụ thể, Điều 260 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017, 2025) quy định về Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ. Theo đó, người tham gia giao thông vi phạm quy định về an toàn giao thông và gây thiệt hại cho người khác như làm chết người, gây thương tích ở mức luật định hoặc gây thiệt hại về tài sản từ 100 triệu đồng đến dưới 500 triệu đồng có thể bị phạt tiền, cải tạo không giam giữ hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.
Theo Điều 3 Nghị định 168/2024/NĐ-CP, được sửa đổi, bổ sung bởi Điều 1 Nghị định 238/2026/NĐ-CP, người nước ngoài vi phạm giao thông tại Việt Nam có thể bị áp dụng các hình thức xử phạt chính gồm cảnh cáo, phạt tiền hoặc tịch thu phương tiện được sử dụng để vi phạm hành chính. Tùy tính chất, mức độ vi phạm, người vi phạm còn có thể bị áp dụng hình thức xử phạt bổ sung như tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề có thời hạn; đình chỉ hoạt động có thời hạn; tịch thu tang vật hoặc phương tiện trong trường hợp luật định.
Bên cạnh đó, người vi phạm có thể phải thực hiện các biện pháp khắc phục hậu quả như buộc khôi phục tình trạng ban đầu, nộp lại số lợi bất hợp pháp, tái xuất phương tiện khỏi Việt Nam hoặc thực hiện các biện pháp khác tương ứng với hành vi vi phạm. Quy định này được áp dụng đối với cá nhân, tổ chức vi phạm, không loại trừ người nước ngoài.
Theo Điều 18 Nghị định 168/2024/NĐ-CP (sửa đổi bởi Nghị định 238/2026/NĐ-CP), người nước ngoài vi phạm luật lệ giao thông đường bộ khi điều khiển phương tiện tại Việt Nam cũng phải có giấy phép lái xe phù hợp và còn hiệu lực theo quy định. Trường hợp vi phạm, mức xử phạt được xác định tùy theo loại phương tiện và tình trạng giấy phép lái xe.
Cụ thể, điểm a khoản 5 Điều 18 quy định phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 4.000.000 đồng đối với người điều khiển xe mô tô hai bánh có dung tích xi-lanh đến 125 cm³ hoặc công suất động cơ điện đến 11 kW và các loại xe tương tự xe mô tô khi không có giấy phép lái xe, sử dụng giấy phép lái xe đã bị trừ hết điểm, không do cơ quan có thẩm quyền cấp, bị tẩy xóa, hết hiệu lực hoặc không phù hợp với loại xe đang điều khiển.
Đối với xe mô tô hai bánh có dung tích xi-lanh trên 125 cm³ hoặc công suất động cơ điện trên 11 kW và xe mô tô ba bánh, điểm b khoản 7 Điều 18 quy định mức phạt từ 6.000.000 đồng đến 8.000.000 đồng đối với trường hợp không có giấy phép lái xe hoặc sử dụng giấy phép lái xe đã bị trừ hết điểm, không do cơ quan có thẩm quyền cấp, bị tẩy xóa hoặc không còn hiệu lực.

Ngoài ra, điểm d khoản 2 Điều 18 quy định phạt từ 200.000 đồng đến 300.000 đồng đối với người điều khiển xe mô tô và các loại xe tương tự xe mô tô kinh doanh vận tải không mang theo giấy phép lái xe, trừ các trường hợp thuộc các khoản xử phạt cao hơn.
Khi nhận quyết định xử phạt vi phạm giao thông tại Việt Nam, người nước ngoài vi phạm luật lệ giao thông đường bộ cần kiểm tra kỹ hành vi vi phạm, căn cứ pháp lý, mức phạt, biện pháp xử phạt bổ sung và thời hạn chấp hành được ghi trong quyết định. Đồng thời, cần thực hiện đúng nghĩa vụ nộp phạt và các biện pháp khắc phục hậu quả theo quyết định của cơ quan có thẩm quyền. Trường hợp không đồng ý với quyết định hoặc cho rằng quyền, lợi ích hợp pháp của mình bị ảnh hưởng, người vi phạm có quyền giải trình, khiếu nại hoặc khởi kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính theo quy định pháp luật.
Sau đây là một số vấn đề thường gặp cần lưu ý khi người nước ngoài vi phạm luật lệ giao thông đường bộ tại Việt Nam, đặc biệt liên quan đến mức xử phạt, quyền làm việc với cơ quan chức năng và trách nhiệm chấp hành quyết định xử phạt.
Có, căn cứ khoản 1 Điều 2 Nghị định 168/2024/NĐ-CP, đối tượng áp dụng bao gồm cá nhân, tổ chức Việt Nam và cá nhân, tổ chức nước ngoài có hành vi vi phạm hành chính về trật tự, an toàn giao thông trong lĩnh vực giao thông đường bộ trên lãnh thổ Việt Nam. Do đó, người nước ngoài vi phạm luật lệ giao thông đường bộ tại Việt Nam vẫn bị xử phạt theo quy định pháp luật Việt Nam, với mức phạt được xác định theo hành vi và tính chất, mức độ vi phạm
Có, căn cứ điểm b khoản 2 Điều 23 Thông tư 72/2024/TT-BCA, đối với người nước ngoài vi phạm luật lệ giao thông đường bộ và không có thân phận ngoại giao có liên quan đến vụ tai nạn giao thông đường bộ, việc điều tra, xác minh, giải quyết được thực hiện như đối với công dân Việt Nam. Trong quá trình ghi lời khai, người nước ngoài có thể tự chọn phiên dịch hoặc Cơ quan Công an có thể mời người phiên dịch. Tuy nhiên, cần lưu ý quy định này được đặt trong trường hợp tai nạn giao thông đường bộ liên quan đến người và phương tiện giao thông của nước ngoài, không phải là quy định chung áp dụng cho mọi trường hợp xử phạt vi phạm giao t
Có, nhưng chỉ trong những trường hợp giấy phép lái xe thuộc một trong các loại được pháp luật Việt Nam công nhận. Căn cứ khoản 6 Điều 57 Luật Trật tự, an toàn giao thông đường bộ 2024, giấy phép lái xe có giá trị sử dụng tại Việt Nam gồm: giấy phép lái xe do cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam cấp; giấy phép lái xe quốc tế kèm giấy phép lái xe quốc gia phù hợp do quốc gia thành viên Công ước Viên 1968 cấp; giấy phép lái xe của nước hoặc vùng lãnh thổ có điều ước quốc tế hoặc thỏa thuận quốc tế với Việt Nam về công nhận giấy phép lái xe; và giấy phép lái xe nước ngoài phù hợp với loại xe được phép điều khiển do quốc gia được công nhận theo điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên.
Vì vậy, người nước ngoài không thể mặc nhiên sử dụng mọi giấy phép lái xe do nước ngoài cấp để điều khiển phương tiện tại Việt Nam mà phải đáp ứng đúng điều kiện công nhận nêu trên.
Việc người nước ngoài đã xuất cảnh không đương nhiên làm chấm dứt nghĩa vụ chấp hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính. Theo Điều 73 và Điều 78 Luật Xử lý vi phạm hành chính 2012 (sửa đổi bởi khoản 39 Điều 1 Luật Xử lý vi phạm hành chính sửa đổi 2020), cá nhân, tổ chức bị xử phạt phải chấp hành quyết định trong thời hạn luật định và nộp tiền phạt theo quyết định; nếu quá hạn thì có thể bị cưỡng chế thi hành và phải nộp thêm 0,05%/ngày trên số tiền phạt chưa nộp.
Đối với người nước ngoài vi phạm luật lệ giao thông đường bộ, nếu đã xuất cảnh nhưng chưa chấp hành xong quyết định xử phạt, nghĩa vụ này về nguyên tắc vẫn còn. Đặc biệt, Điều 74 Luật Xử lý vi phạm hành chính 2012 (sửa đổi bởi khoản 36 Điều 1 Luật Xử lý vi phạm hành chính sửa đổi 2020) quy định thời hiệu thi hành quyết định xử phạt là 01 năm kể từ ngày ra quyết định; trường hợp người bị xử phạt cố tình trốn tránh, trì hoãn thì thời hiệu được tính từ thời điểm chấm dứt hành vi trốn tránh, trì hoãn.
Vì vậy, xuất cảnh khỏi Việt Nam không phải là căn cứ để tự động miễn hoặc xóa nghĩa vụ nộp phạt. Người vi phạm vẫn phải thực hiện nghĩa vụ theo quyết định xử phạt và các biện pháp khắc phục hậu quả (nếu có).
Có, người nước ngoài gây tai nạn giao thông trên lãnh thổ Việt Nam vẫn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo pháp luật Việt Nam, nếu hành vi đủ yếu tố cấu thành tội phạm. Căn cứ khoản 1 Điều 5 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017, 2025, Bộ luật này áp dụng đối với mọi hành vi phạm tội thực hiện trên lãnh thổ Việt Nam; người nước ngoài thuộc diện được hưởng quyền miễn trừ ngoại giao, lãnh sự thì xử lý theo quy định riêng.
Cụ thể, Điều 260 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017, 2025) quy định về Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ. Người tham gia giao thông vi phạm quy định về an toàn giao thông và gây hậu quả thuộc các trường hợp luật định, như làm chết người, gây tổn hại sức khỏe ở mức luật định hoặc gây thiệt hại tài sản từ 100 triệu đồng trở lên, có thể bị phạt tiền, cải tạo không giam giữ hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm ở khung cơ bản.
Người nước ngoài nên liên hệ NPLaw khi gặp vướng mắc trong quá trình xử lý vi phạm giao thông, đặc biệt khi không hiểu rõ quy định pháp luật Việt Nam, gặp khó khăn về ngôn ngữ, không đồng ý với quyết định xử phạt, bị tạm giữ giấy phép lái xe hoặc phương tiện, hoặc xảy ra tai nạn giao thông có dấu hiệu phát sinh trách nhiệm dân sự, hành chính hoặc hình sự. NPLaw có thể hỗ trợ rà soát hồ sơ, đánh giá trách nhiệm pháp lý, tư vấn hướng xử lý và hỗ trợ khách hàng làm việc với cơ quan có thẩm quyền, nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của khách hàng. NPLaw cũng cung cấp nhiều dịch vụ pháp lý liên quan đến giải quyết tranh chấp và pháp luật hình sự.
Trên đây là các thông tin mang tính tham khảo, Quý khách hàng cần tư vấn chi tiết về trường hợp cụ thể, vui lòng liên hệ cho Hãng luật NPLaw để được tư vấn ngay.
CÔNG TY LUẬT TNHH NGỌC PHÚ
Tổng đài tư vấn và CSKH: 0913419996
Hotline: 0913449968
Email: legal@nplaw.vn