Kinh doanh thực phẩm bẩn quy mô lớn là hành vi tiềm ẩn nhiều rủi ro pháp lý nghiêm trọng, có thể dẫn đến xử phạt hành chính, truy cứu trách nhiệm hình sự và ảnh hưởng lớn đến uy tín doanh nghiệp. Bài viết dưới đây sẽ phân tích các quy định pháp luật liên quan, chế tài xử lý và những biện pháp phòng ngừa cần thiết để tránh vi phạm.
Kinh doanh thực phẩm bẩn quy mô lớn là hành vi vi phạm pháp luật, người thực hiện hành trên phải đối diện nhiều rủi ro pháp lý nghiêm trọng do ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe và tính mạng người tiêu dùng. Tùy theo tính chất, mức độ vi phạm, cá nhân hoặc tổ chức thực hiện hành vi có thể bị xử phạt vi phạm hành chính, buộc thu hồi, tiêu hủy sản phẩm và đình chỉ hoạt động kinh doanh.
Trường hợp hành vi gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đủ yếu tố cấu thành tội phạm, người vi phạm và pháp nhân thương mại liên quan còn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật. Đồng thời, doanh nghiệp có nguy cơ phải bồi thường thiệt hại và chịu tổn thất lớn về uy tín, thương hiệu.

Có thể thấy, kinh doanh thực phẩm bẩn quy mô lớn không chỉ kéo theo các chế tài pháp lý nghiêm khắc mà còn gây ảnh hưởng lâu dài đến hoạt động kinh doanh. Do đó, việc tuân thủ quy định về an toàn thực phẩm là yêu cầu bắt buộc đối với mọi cơ sở kinh doanh.
Để nhận diện và phòng tránh rủi ro pháp lý, cần hiểu rõ bản chất và các dấu hiệu của hành vi kinh doanh thực phẩm bẩn quy mô lớn.
Theo pháp luật hiện hành, không có thuật ngữ pháp lý chính thức là “kinh doanh thực phẩm bẩn quy mô lớn”. Tuy nhiên, hành vi này có thể được hiểu là việc sản xuất, chế biến, buôn bán hoặc lưu thông thực phẩm không bảo đảm an toàn, thực phẩm giả, thực phẩm chứa chất cấm, thực phẩm không rõ nguồn gốc xuất xứ hoặc không đáp ứng quy chuẩn kỹ thuật, được thực hiện với số lượng lớn, phạm vi rộng và có khả năng ảnh hưởng đến nhiều người tiêu dùng.
Kinh doanh thực phẩm bẩn quy mô lớn là hành vi đưa thực phẩm không bảo đảm an toàn ra thị trường với quy mô, số lượng hoặc phạm vi tiêu thụ lớn, xâm phạm đến sức khỏe cộng đồng và có thể dẫn đến các chế tài pháp lý nghiêm khắc.
Một cơ sở có dấu hiệu kinh doanh thực phẩm bẩn quy mô lớn thường được nhận biết thông qua một số biểu hiện như:
Dấu hiệu “quy mô lớn” thường thể hiện ở số lượng thực phẩm vi phạm lớn, phạm vi tiêu thụ rộng, có sự tham gia của nhiều cá nhân, tổ chức hoặc hình thành đường dây cung ứng, phân phối đến nhiều địa phương. Đây là những yếu tố có thể được cơ quan chức năng xem xét khi đánh giá tính chất, mức độ vi phạm và áp dụng biện pháp xử lý phù hợp.
Việc thiếu minh bạch về nguồn gốc thực phẩm, vi phạm các điều kiện bảo đảm an toàn thực phẩm và hoạt động phân phối trên diện rộng là những dấu hiệu phổ biến cho thấy một cơ sở có nguy cơ đang kinh doanh thực phẩm bẩn quy mô lớn.
Hành vi bán thực phẩm online không rõ nguồn gốc xuất xứ vẫn có thể bị xem là kinh doanh thực phẩm bẩn quy mô lớn. Nếu thực phẩm được bán không có giấy tờ chứng minh nguồn gốc hợp pháp, không có giấy tờ chứng minh đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm. Pháp luật hiện hành không phân biệt hình thức kinh doanh trực tiếp hay trực tuyến mà tập trung vào bản chất của hành vi và mức độ vi phạm.

Trong thực tế, nhiều trường hợp cá nhân hoặc tổ chức sử dụng mạng xã hội, sàn thương mại điện tử hoặc website để tiêu thụ thực phẩm không rõ nguồn gốc với số lượng lớn, phạm vi tiếp cận rộng và doanh thu cao. Nếu có đủ căn cứ xác định thực phẩm không bảo đảm an toàn hoặc gây thiệt hại cho người tiêu dùng, người bán vẫn có thể bị xử lý hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật.
Tóm lại, bán hàng online không rõ nguồn gốc hoàn toàn có thể được xem là một dạng kinh doanh thực phẩm bẩn quy mô lớn khi đáp ứng các dấu hiệu về tính chất vi phạm, số lượng hàng hóa và phạm vi tiêu thụ trên thị trường.
Hành vi liên đới chịu trách nhiệm, đồng phạm hoặc che giấu cho đường dây kinh doanh thực phẩm bẩn quy mô lớn không chỉ giới hạn ở người trực tiếp sản xuất, buôn bán thực phẩm vi phạm mà còn bao gồm những cá nhân, tổ chức có sự tham gia hoặc hỗ trợ cho hoạt động này. Theo khoản 1 Điều 17 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung 2017, 2025 (sau đây gọi tắt là BLHS 2015 sửa đổi, bổ sung 2017, 2025) đồng phạm là trường hợp có từ hai người trở lên cố ý cùng thực hiện một tội phạm. Trong đó có thể bao gồm người tổ chức, người thực hành, người xúi giục và người giúp sức theo khoản 3 Điều này.
Do đó, người biết rõ thực phẩm không bảo đảm an toàn nhưng vẫn vận chuyển, lưu kho, phân phối, quảng cáo, hợp thức hóa hồ sơ nguồn gốc hoặc tạo điều kiện cho việc tiêu thụ thực phẩm vi phạm có thể bị xem là người giúp sức trong vụ án hình sự. Trường hợp chủ cơ sở, quản lý hoặc nhân viên cùng bàn bạc, phân công nhiệm vụ để thực hiện việc tiêu thụ thực phẩm bẩn thì có thể bị xác định là đồng phạm.
Người không tham gia vào quá trình kinh doanh nhưng biết rõ hành vi phạm tội đã hoặc đang được thực hiện mà có hành vi cất giấu đối tượng, tiêu hủy chứng cứ, che giấu thông tin hoặc cản trở cơ quan chức năng phát hiện, xử lý vi phạm thì có thể bị xem xét trách nhiệm về hành vi che giấu tội phạm theo Điều 389 BLHS 2015 sửa đổi, bổ sung 2017, 2025, trừ các trường hợp được pháp luật loại trừ trách nhiệm.
Tóm lại, không chỉ người trực tiếp kinh doanh thực phẩm bẩn mà cả những người cố ý tham gia, hỗ trợ hoặc che giấu cho đường dây kinh doanh thực phẩm bẩn quy mô lớn đều có thể phải chịu trách nhiệm pháp lý tương ứng với vai trò và mức độ liên quan của mình.
Để xác định trách nhiệm pháp lý và cách xử lý đối với hành vi kinh doanh thực phẩm bẩn quy mô lớn, cần nắm rõ các quy định của pháp luật hiện hành.
Theo khoản 1 Điều 6 Luật An toàn vệ sinh thực phẩm 2010 (sau đây gọi tắt là Luật ATVSTP 2010), tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh thực phẩm vi phạm pháp luật về an toàn thực phẩm thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý vi phạm hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự:
Hành vi kinh doanh thực phẩm bẩn quy mô lớn có thể bị áp dụng đồng thời các chế tài hành chính hoặc hình sự tùy theo tính chất, mức độ vi phạm và hậu quả gây ra.
Để cơ quan điều tra khởi tố vụ án hình sự đối với pháp nhân thương mại có hành vi kinh doanh thực phẩm bẩn quy mô lớn, trước hết phải có căn cứ xác định hành vi đó có dấu hiệu của tội phạm theo quy định của Bộ luật Hình sự. Trong lĩnh vực an toàn thực phẩm, hành vi sản xuất, kinh doanh thực phẩm không bảo đảm an toàn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về Tội vi phạm quy định về an toàn thực phẩm theo Điều 317 BLHS 2015 được sửa đổi bởi khoản 119 Điều 1 Luật sửa đổi Bộ luật Hình sự 2017.
Pháp nhân thương mại chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự khi có đủ các điều kiện quy định tại khoản 1 Điều 75 Bộ luật này: hành vi phạm tội được thực hiện nhân danh pháp nhân thương mại; hành vi phạm tội được thực hiện vì lợi ích của pháp nhân thương mại; hành vi phạm tội được thực hiện có sự chỉ đạo, điều hành hoặc chấp thuận của pháp nhân thương mại; chưa hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 27 của Bộ luật này.

Chỉ khi có căn cứ xác định hành vi phạm tội và đáp ứng đầy đủ các điều kiện này thì cơ quan điều tra mới có cơ sở tiến hành khởi tố vụ án hình sự và xem xét trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại theo đúng quy định của pháp luật.
Khi bị tình nghi kinh doanh thực phẩm bẩn quy mô lớn, doanh nghiệp thực hiện việc giải trình và chứng minh nguồn gốc sản phẩm theo trình tự sau:
Doanh nghiệp cần chủ động cung cấp đầy đủ hồ sơ, chứng cứ và thực hiện quyền giải trình theo yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền.
Trong thực tiễn, nhiều cá nhân và doanh nghiệp còn băn khoăn về các vấn đề pháp lý phát sinh liên quan đến kinh doanh thực phẩm bẩn quy mô lớn. Dưới đây là những thắc mắc thường gặp và giải đáp cụ thể.
Khi phát hiện hành vi kinh doanh thực phẩm bẩn quy mô lớn, người tiêu dùng vừa có quyền yêu cầu bảo vệ quyền lợi của mình, vừa có trách nhiệm phối hợp với cơ quan có thẩm quyền để ngăn chặn hành vi vi phạm. Cụ thể, theo khoản 1 và khoản 7 Điều 4 Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng 2023 (sau đây gọi tắt là Luật BVQLNTD 2023) người tiêu dùng có quyền:
Về nghĩa vụ liên quan khi phát hiện kinh doanh thực phẩm bẩn quy mô lớn, theo khoản 3 Điều 6 Luật BVQLNTD 2023, người tiêu dùng có nghĩa vụ thông tin kịp thời cho cơ quan nhà nước, tổ chức, cá nhân có liên quan khi phát hiện hàng hóa có dấu hiệu không bảo đảm an toàn, gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại đến tính mạng, sức khỏe, tài sản của người tiêu dùng.
Cho nên, khi phát hiện hành vi kinh doanh thực phẩm bẩn quy mô lớn, người tiêu dùng có quyền yêu cầu bảo vệ quyền lợi, khiếu nại, tố cáo và yêu cầu bồi thường, đồng thời có nghĩa vụ thông báo, cung cấp thông tin cho cơ quan có thẩm quyền để kịp thời ngăn chặn và xử lý hành vi vi phạm theo quy định của pháp luật.
Khi phát hiện kinh doanh thực phẩm bẩn quy mô lớn, nếu có ý định tố cáo theo khoản 3 Điều 2 Luật Tố cáo 2018, có thể lựa chọn thực hiện bằng đơn hoặc được trình bày trực tiếp tại cơ quan, tổ chức có thẩm quyền (quy định tại Điều 22 Luật này). Khi tố cáo cần kèm theo các tài liệu, chứng cứ như hình ảnh, video, hóa đơn, chứng từ, kết quả kiểm nghiệm (nếu có) hoặc các tài liệu khác chứng minh hành vi vi phạm.
Sau khi tiếp nhận, cơ quan có thẩm quyền sẽ kiểm tra, thụ lý, xác minh nội dung tố cáo và ban hành kết luận xử lý theo Điều 28 Luật Tố cáo 2018. Thời hạn để giải quyết tố cáo là không quá 30 ngày kể từ ngày thụ lý tố cáo và có thể được gia hạn theo hướng dẫn tại Điều 3 Nghị định 31/2019/NĐ-CP. Trường hợp có dấu hiệu tội phạm, hồ sơ sẽ được chuyển cho cơ quan điều tra để xử lý theo khoản 2 Điều 36 Luật này quy định.
Việc tố cáo đúng trình tự và cung cấp đầy đủ chứng cứ là cơ sở để cơ quan có thẩm quyền xử lý hiệu quả hành vi kinh doanh thực phẩm bẩn quy mô lớn.
Trường hợp kinh doanh thực phẩm bẩn quy mô lớn gây ngộ độc thực phẩm, cá nhân hoặc pháp nhân thương mại có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự nếu hành vi đủ yếu tố cấu thành tội phạm. Điều 317 BLHS 2015 được sửa đổi bởi khoản 119 Điều 1 Luật sửa đổi Bộ luật Hình sự 2017 quy định về tội vi phạm quy định về an toàn thực phẩm.
Theo đó, hành vi vi phạm quy định về an toàn thực phẩm gây thiệt hại cho sức khỏe hoặc tính mạng của người khác là căn cứ để xử lý hình sự. Trường hợp hành vi làm gây ngộ độc ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe của nhiều người, gây tổn hại sức khỏe, gây chết người hoặc gây thiệt hại khác thuộc các trường hợp quy định tại các khoản 1, 2, 3 và 4 Điều này, người phạm tội có thể bị áp dụng các khung hình phạt tương ứng với tính chất, mức độ và hậu quả của hành vi. Nếu hành vi được thực hiện nhân danh, vì lợi ích của pháp nhân thương mại và đáp ứng đủ các điều kiện quy định tại khoản 1 Điều 75 BLHS 2015 sửa đổi bổ sung 2017, 2025 thì pháp nhân thương mại cũng phải chịu trách nhiệm hình sự.
Khi hành vi kinh doanh thực phẩm bẩn quy mô lớn gây ngộ độc thực phẩm và đủ dấu hiệu cấu thành tội phạm theo Điều 317 Bộ luật Hình sự năm 2015 thì cả cá nhân và pháp nhân thương mại có liên quan đều có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật.
Khi phát hiện sản phẩm thực phẩm do mình sản xuất, kinh doanh không bảo đảm an toàn hoặc khi cơ quan nhà nước có thẩm quyền yêu cầu, tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh sản phẩm phải có trách nhiệm thực hiện việc truy xuất nguồn gốc (Điều 34 Nghị định 15/2018/NĐ-CP). Doanh nghiệp cần ngay lập tức dừng sử dụng, lưu thông nguyên liệu nghi ngờ. Sau đó, tiến hành truy xuất nguồn gốc, thu hồi thực phẩm đã đưa ra thị trường (nếu có). Đồng thời, thông báo và phối hợp với cơ quan nhà nước có thẩm quyền để xử lý sự cố an toàn thực phẩm. Song đó, phải kịp thời xử lý, khắc phục sự cố về an toàn thực phẩm và chịu trách nhiệm về an toàn đối với thực phẩm do mình sản xuất, kinh doanh.
Việc chủ động dừng lưu thông, truy xuất nguồn gốc, thu hồi và phối hợp với cơ quan có thẩm quyền ngay khi phát hiện nguyên liệu độc hại không chỉ là nghĩa vụ pháp lý mà còn là căn cứ quan trọng để chứng minh doanh nghiệp đã thực hiện đầy đủ trách nhiệm quản lý, qua đó giảm nguy cơ bị quy kết trách nhiệm trong vụ việc kinh doanh thực phẩm bẩn quy mô lớn.
Doanh nghiệp cần tuân thủ điều kiện bảo đảm an toàn thực phẩm đối với cơ sở sản xuất kinh doanh thực phẩm cũng như trong bảo quản thực phẩm (Điều 19, 20 Luật ATVSTP 2010). Thiết lập và duy trì hệ thống kiểm soát an toàn thực phẩm trong toàn bộ quá trình sản xuất, kinh doanh; kiểm soát nguồn gốc nguyên liệu, điều kiện bảo đảm an toàn thực phẩm, lưu giữ hồ sơ truy xuất nguồn gốc và chỉ đưa ra thị trường thực phẩm đáp ứng quy chuẩn an toàn.
Việc xây dựng và tuân thủ đầy đủ các quy định về kiểm soát nguyên liệu, điều kiện sản xuất, truy xuất nguồn gốc cũng như quản lý chất lượng là biện pháp phòng ngừa quan trọng giúp doanh nghiệp hạn chế nguy cơ bị xem là kinh doanh thực phẩm bẩn quy mô lớn.
Để chủ động phòng ngừa rủi ro, xây dựng hệ thống kiểm soát nội bộ hiệu quả và không vướng vào các rủi ro pháp lý liên quan đến kinh doanh thực phẩm bẩn quy mô lớn, doanh nghiệp cần được tư vấn và rà soát quy trình ngay từ khâu lựa chọn nhà cung cấp, kiểm soát nguyên liệu đến quản lý chất lượng và truy xuất nguồn gốc. Hãy liên hệ ngay với NPLaw để được đội ngũ luật sư và chuyên gia đồng hành, giúp doanh nghiệp bảo vệ hoạt động kinh doanh và hạn chế tối đa nguy cơ bị xử lý hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự.
Kinh doanh thực phẩm bẩn quy mô lớn có thể khiến cá nhân, doanh nghiệp phải đối mặt với nhiều hậu quả pháp lý nghiêm trọng, từ xử phạt vi phạm hành chính đến truy cứu trách nhiệm hình sự và bồi thường thiệt hại. Vì vậy, việc tuân thủ đầy đủ quy định về an toàn thực phẩm, kiểm soát nguồn gốc nguyên liệu và xây dựng quy trình quản lý rủi ro là giải pháp quan trọng để phòng ngừa vi phạm và bảo đảm hoạt động kinh doanh bền vững.
Trên đây là các thông tin mang tính tham khảo, Quý khách hàng cần tư vấn về trường hợp chi tiết cụ thể, vui lòng liên hệ cho Hãng luật NPLaw để được tư vấn ngay.
CÔNG TY LUẬT TNHH NGỌC PHÚ
Tổng đài tư vấn và CSKH: 0913419996
Hotline: 0913449968
Email: legal@nplaw.vn