Tội vi phạm quy định về quản lý chất thải nguy hại là hành vi có thể gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường và sức khỏe con người, đồng thời tiềm ẩn nguy cơ phát sinh trách nhiệm hình sự đối với cá nhân, doanh nghiệp vi phạm. Việc thu gom, lưu giữ, vận chuyển và xử lý chất thải nguy hại phải được thực hiện đúng quy định pháp luật. Vậy những hành vi nào có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự? Doanh nghiệp cần lưu ý gì để hạn chế rủi ro pháp lý? Nội dung dưới đây sẽ làm rõ các vấn đề này.
Tội vi phạm quy định về quản lý chất thải nguy hại được quy định tại Điều 236 Bộ luật Hình sự 2015 (được sửa đổi bởi Khoản 58 Điều 1 Luật sửa đổi Bộ luật Hình sự 2017) Theo đó, người có thẩm quyền thực hiện hành vi chôn, lấp, đổ, thải trái quy định chất thải nguy hại thuộc các trường hợp luật định có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự, với hình phạt cao nhất từ 05 năm đến 10 năm tù.
Doanh nghiệp cần lưu ý rằng không phải mọi vi phạm trong quản lý chất thải nguy hại đều cấu thành tội phạm. Việc xác định trách nhiệm hình sự phải căn cứ vào chủ thể, hành vi, loại và khối lượng chất thải cùng các điều kiện cấu thành tội phạm tại Điều 236 Bộ luật Hình sự 2015 (được sửa đổi bởi Khoản 58 Điều 1 Luật sửa đổi Bộ luật Hình sự 2017). Do đó, doanh nghiệp cần kiểm soát chặt chẽ việc phân loại, thu gom, lưu giữ, chuyển giao và xử lý chất thải nguy hại theo quy định pháp luật.
Tội vi phạm quy định về quản lý chất thải nguy hại là hành vi vi phạm quy định trong việc chôn, lấp, đổ, thải chất thải nguy hại, gây ảnh hưởng đến môi trường và thuộc trường hợp phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định pháp luật.
Theo khoản 18 Điều 3 Luật Bảo vệ môi trường 2020, chất thải là vật chất ở thể rắn, lỏng, khí hoặc ở dạng khác được thải ra từ hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, sinh hoạt hoặc hoạt động khác. Khoản 20 Điều 3 Luật này xác định chất thải nguy hại là chất thải chứa yếu tố độc hại, phóng xạ, lây nhiễm, dễ cháy, dễ nổ, gây ăn mòn, gây nhiễm độc hoặc có đặc tính nguy hại khác.
Tội vi phạm quy định về quản lý chất thải nguy hại là hành vi phạm tội được quy định tại Điều 236 Bộ luật Hình sự 2015 (được sửa đổi bởi Khoản 12 Điều 1 Luật sửa đổi Bộ luật Hình sự 2025). Theo đó, chủ thể của tội phạm là người có thẩm quyền thực hiện hành vi cho phép chôn, lấp, đổ, thải trái quy định của pháp luật chất thải nguy hại thuộc các trường hợp được điều luật quy định.
Điểm đặc trưng của tội này là hành vi “cho phép” của người có thẩm quyền, do đó không phải mọi hành vi vi phạm quy định về quản lý chất thải nguy hại đều cấu thành tội phạm theo Điều 236 Bộ luật này. Việc xác định trách nhiệm hình sự phải căn cứ vào chủ thể, hành vi, loại chất thải, khối lượng chất thải và các tình tiết cụ thể được quy định tại Điều 236 Bộ luật này.
Theo khoản 20 Điều 3 Luật Bảo vệ môi trường 2020, chất thải nguy hại là chất thải chứa yếu tố độc hại, phóng xạ, lây nhiễm, dễ cháy, dễ nổ, gây ăn mòn, gây nhiễm độc hoặc có đặc tính nguy hại khác.
Việc xác định một loại chất thải có phải là chất thải nguy hại hay không không chỉ dựa vào tên gọi hoặc nguồn phát sinh mà phải căn cứ vào quy định về phân định, phân loại và danh mục chất thải nguy hại. Theo Điều 72 Luật Bảo vệ môi trường 2020, chất thải phải được quản lý trong toàn bộ quá trình phát sinh, phân loại, thu gom, lưu giữ, vận chuyển và xử lý; chủ nguồn thải có trách nhiệm phân định chất thải theo quy định pháp luật.

Theo đó, các chất thải có chứa những yếu tố nguy hại nêu trên và thuộc danh mục, đáp ứng tiêu chí hoặc ngưỡng chất thải nguy hại theo quy định có thể được xác định là chất thải nguy hại.
Tội vi phạm quy định về quản lý chất thải nguy hại và vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý chất thải khác nhau chủ yếu về tính chất, mức độ vi phạm và căn cứ áp dụng trách nhiệm pháp lý.
Theo Điều 236 Bộ luật Hình sự 2015 (được sửa đổi bởi khoản 12 Điều 1 Luật sửa đổi Bộ luật Hình sự 2025), tội phạm này đòi hỏi chủ thể là người có thẩm quyền và thực hiện hành vi cho phép chôn, lấp, đổ, thải trái quy định của pháp luật chất thải nguy hại thuộc các trường hợp, khối lượng và điều kiện được quy định cụ thể tại điều luật. Khung hình phạt cao nhất đối với hành vi này có thể lên đến 10 năm tù.
Trong khi đó, hành vi vi phạm quy định về quản lý chất thải nhưng chưa đủ yếu tố cấu thành tội phạm có thể bị xử phạt vi phạm hành chính theo pháp luật về bảo vệ môi trường. Hình thức xử lý có thể gồm phạt tiền và áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả.
|
Tiêu chí |
Tội vi phạm quy định về quản lý chất thải nguy hại |
Vi phạm hành chính |
|
Bản chất |
Hành vi có đủ yếu tố cấu thành tội phạm |
Hành vi vi phạm pháp luật nhưng chưa đến mức truy cứu hình sự |
|
Căn cứ chính |
Điều 236 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi năm 2025 |
Các quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường |
|
Chủ thể theo Điều 236 |
Người có thẩm quyền thực hiện hành vi “cho phép” theo điều luật |
Cá nhân, tổ chức có hành vi vi phạm hành chính |
|
Hậu quả pháp lý |
Có thể bị phạt tiền, cải tạo không giam giữ hoặc phạt tù |
Chủ yếu bị phạt tiền và áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả |
|
Điều kiện xử lý |
Phải đáp ứng đầy đủ dấu hiệu cấu thành tội phạm và ngưỡng được luật hình sự quy định |
Chỉ cần hành vi thuộc trường hợp vi phạm hành chính theo quy định |
Do đó, không phải mọi hành vi quản lý chất thải nguy hại trái quy định đều bị xử lý hình sự. Khi xem xét một vụ việc cụ thể, cần xác định chính xác hành vi, chủ thể, loại chất thải, khối lượng và các điều kiện khác để xác định đó là vi phạm hành chính hay có dấu hiệu của tội phạm theo Điều 236 Bộ luật Hình sự.
Tội vi phạm quy định về quản lý chất thải nguy hại được quy định cụ thể tại Điều 236 Bộ luật Hình sự 2015 (được sửa đổi bởi khoản 12 Điều 1 Luật sửa đổi Bộ luật Hình sự 2025). Các quy định tập trung vào hành vi phạm tội, chủ thể, mức hình phạt và các tình tiết định khung trách nhiệm hình sự.
Theo Nghị định 08/2022/NĐ-CP, chất thải nguy hại phải được quản lý từ khâu phân loại, thu gom, lưu giữ, vận chuyển đến xử lý, cụ thể:
Như vậy, chất thải nguy hại phải được phân loại, thu gom, lưu giữ và vận chuyển đúng yêu cầu kỹ thuật, đồng thời được tự xử lý hoặc chuyển giao cho cơ sở đủ điều kiện xử lý theo quy định pháp luật.
Theo Điều 236 Bộ luật Hình sự 2015 (được sửa đổi bởi khoản 12 Điều 1 Luật sửa đổi Bộ luật Hình sự 2025), chủ thể của Tội vi phạm quy định về quản lý chất thải nguy hại là cá nhân có thẩm quyền thực hiện hành vi vi phạm theo điều luật. Cụ thể, khoản 1 Điều 236 quy định trường hợp “người nào có thẩm quyền” cho phép chôn, lấp, đổ, thải trái quy định chất thải nguy hại khi đạt các ngưỡng luật định thì có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

Do đó, không phải mọi cá nhân, doanh nghiệp hoặc chủ nguồn thải chất thải nguy hại đều có thể bị truy cứu theo Điều 236 Bộ luật Hình sự 2015 (được sửa đổi bởi khoản 12 Điều 1 Luật sửa đổi Bộ luật Hình sự 2025). Đối với tội danh này, cần xác định người vi phạm có thẩm quyền cho phép hành vi chôn, lấp, đổ, thải chất thải nguy hại trái pháp luật hay không, đồng thời phải đáp ứng các dấu hiệu định lượng và điều kiện khác được quy định tại Điều 236.
Doanh nghiệp có phát sinh chất thải nguy hại phải thực hiện đầy đủ các yêu cầu về phân định, phân loại, lưu giữ, vận chuyển, chuyển giao và xử lý theo quy định pháp luật, cụ thể:
Như vậy, doanh nghiệp phải kiểm soát chất thải nguy hại trong toàn bộ quá trình từ phân loại, lưu giữ đến vận chuyển và xử lý, đồng thời bảo đảm việc chuyển giao cho đơn vị có đủ điều kiện theo pháp luật.
Việc xác định trách nhiệm hình sự đối với hành vi vi phạm quy định về quản lý chất thải nguy hại phụ thuộc vào tính chất, mức độ và các điều kiện cấu thành tội phạm theo pháp luật hình sự.
Doanh nghiệp không được tùy ý thuê đơn vị không đáp ứng điều kiện pháp luật để vận chuyển hoặc xử lý chất thải nguy hại. Theo khoản 1 Điều 70 Nghị định 08/2022/NĐ-CP, cơ sở thực hiện dịch vụ xử lý chất thải nguy hại phải có giấy phép môi trường có nội dung dịch vụ xử lý chất thải nguy hại hoặc giấy phép môi trường thành phần phù hợp. Đồng thời, theo khoản 3 Điều 71, chủ nguồn thải phải tự xử lý theo điều kiện luật định hoặc ký hợp đồng chuyển giao cho cơ sở thực hiện dịch vụ xử lý chất thải nguy hại phù hợp.
Do đó, nếu doanh nghiệp thuê đơn vị không có giấy phép hoặc không có chức năng phù hợp để tiếp nhận, vận chuyển, xử lý chất thải nguy hại thì việc chuyển giao là không đúng quy định pháp luật. Chủ nguồn thải vẫn phải chịu trách nhiệm về việc quản lý, chuyển giao chất thải của mình theo quy định.
Việc không phân loại chất thải nguy hại là hành vi vi phạm quy định về quản lý chất thải, nhưng chỉ riêng hành vi này chưa đủ căn cứ để truy cứu trách nhiệm hình sự về Tội vi phạm quy định về quản lý chất thải nguy hại theo Điều 236 Bộ luật Hình sự.
Theo Điều 68 Nghị định 08/2022/NĐ-CP, chất thải nguy hại phải được phân loại theo mã để lưu giữ trong bao bì hoặc thiết bị lưu chứa phù hợp.
Trong khi đó,Điều 236 Bộ luật Hình sự 2015 (được sửa đổi bởi khoản 12 Điều 1 Luật sửa đổi Bộ luật Hình sự 2025) quy định tội danh này đối với hành vi của người có thẩm quyền cho phép chôn, lấp, đổ, thải trái quy định chất thải nguy hại, đồng thời phải đáp ứng các điều kiện về loại chất thải, khối lượng hoặc mức độ nguy hiểm được điều luật quy định.
Do đó, doanh nghiệp hoặc cá nhân không phân loại chất thải nguy hại trước khi xử lý có thể bị xử lý theo quy định về vi phạm hành chính hoặc các trách nhiệm pháp lý khác; không thể chỉ dựa vào hành vi không phân loại để kết luận người đó phạm Điều 236 Bộ luật Hình sự 2015 (được sửa đổi bởi khoản 12 Điều 1 Luật sửa đổi Bộ luật Hình sự 2025).
Việc không lập hoặc lưu giữ hồ sơ, chứng từ quản lý chất thải nguy hại theo quy định chưa đủ căn cứ để truy cứu trách nhiệm hình sự về Tội vi phạm quy định về quản lý chất thải nguy hại theo Điều 236 Bộ luật Hình sự 2015 (được sửa đổi bởi khoản 12 Điều 1 Luật sửa đổi Bộ luật Hình sự 2025).
Theo Điều 71 Nghị định 08/2022/NĐ-CP, chủ nguồn thải chất thải nguy hại có trách nhiệm thực hiện các yêu cầu về quản lý, lưu giữ và lập chứng từ khi chuyển giao chất thải nguy hại.

Trong khi đó, Điều 236 Bộ luật Hình sự 2015 (được sửa đổi bởi khoản 12 Điều 1 Luật sửa đổi Bộ luật Hình sự 2025) tập trung xử lý hành vi người có thẩm quyền cho phép chôn, lấp, đổ, thải trái quy định chất thải nguy hại và phải đáp ứng các điều kiện, ngưỡng định lượng mà điều luật quy định. Vì vậy, chỉ riêng việc không lập hoặc lưu giữ hồ sơ quản lý chất thải nguy hại không cấu thành tội phạm này.
Trường hợp vi phạm chỉ dừng ở việc không thực hiện đúng nghĩa vụ về hồ sơ, chứng từ thì có thể bị xử phạt vi phạm hành chính theo quy định pháp luật về bảo vệ môi trường.
Nếu hành vi đã cấu thành tội phạm, việc người phạm tội chủ động ngăn chặn, làm giảm tác hại hoặc tự nguyện khắc phục hậu quả có thể được xem xét là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.
Cụ thể, Điểm a và điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) quy định các tình tiết giảm nhẹ gồm: người phạm tội đã ngăn chặn hoặc làm giảm bớt tác hại của tội phạm; tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại hoặc khắc phục hậu quả.
Tuy nhiên, việc khắc phục hậu quả không làm đương nhiên mất trách nhiệm hình sự nếu hành vi đã đủ yếu tố cấu thành tội phạm. Đây chỉ là căn cứ để Tòa án xem xét khi quyết định hình phạt.
Khi phát hiện đơn vị xử lý chất thải nguy hại có dấu hiệu vi phạm, doanh nghiệp cần kiểm tra lại điều kiện của đơn vị tiếp nhận, kiểm soát việc chuyển giao và báo cáo cơ quan có thẩm quyền khi có dấu hiệu bất thường. Căn cứ Điều 71 Nghị định 08/2022/NĐ-CP, doanh nghiệp là chủ nguồn thải có trách nhiệm:
Như vậy, doanh nghiệp không nên tiếp tục chuyển giao chất thải cho đơn vị có dấu hiệu không đủ điều kiện; đồng thời cần lưu giữ đầy đủ hợp đồng, chứng từ và hồ sơ liên quan để chứng minh việc quản lý, chuyển giao chất thải nguy hại đúng quy định.
Khi phát sinh vụ việc liên quan đến tội vi phạm quy định về quản lý chất thải nguy hại, việc được luật sư tư vấn sớm giúp doanh nghiệp và cá nhân xác định đúng trách nhiệm pháp lý, hạn chế rủi ro và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp. NPLaw có thể hỗ trợ:
Trên đây là các thông tin mang tính tham khảo, Quý khách hàng cần tư vấn chi tiết về trường hợp cụ thể, vui lòng liên hệ cho Hãng luật NPLaw để được tư vấn ngay.
CÔNG TY LUẬT TNHH NGỌC PHÚ
Tổng đài tư vấn và CSKH: 0913419996
Hotline: 0913449968
Email: legal@nplaw.vn